CHƯA TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐỜI.

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Ông Bá Thanh nói về bỏ phiếu tín nhiệm



Ông Nguyễn Bá Thanh
Ông Nguyễn Bá Thanh nói không nên ca ngợi việc bỏ phiếu tín nhiệm
Sau một thời gian vắng bóng trên truyền thông, Trưởng ban Nội chính Trung ương Đảng CSVN Nguyễn Bá Thanh vừa xuất hiện trở lại với một số phát biểu đáng chú ý trước cử tri TP Đà Nẵng.
Báo trong nước đưa tin ông Thanh, đại biểu Quốc hội khóa XIII, vừa có cuộc tiếp xúc cử tri sáng thứ Hai 24/6.
Ông Nguyễn Bá Thanh đã không được bầu chọn vào vị trí bổ sung Bộ Chính trị Đảng CSVN tại Hội nghị Trung ương 7 hồi tháng Năm. Điều này bị cho là sẽ kìm hãm vai trò trưởng ban nội chính của ông.
Bản tin về cuộc tiếp xúc cử tri ngày 24/6 trên báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh cho hay ông Thanh đã đề cập tới câu hỏi của một cử tri về việc Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm cho 47 vị trí lãnh đạo chính phủ và nhà nước mới đây, rằng "những người có phiếu tín nhiệm thấp thì phải xử lý như thế nào, chẳng lẽ để hòa cả làng?”.
Ông Nguyễn Bá Thanh cho biết, người phải có hai lần nhận phiếu tín nhiệm thấp thì lúc đó mới xem xét bỏ phiếu tín nhiệm hay không tín nhiệm.
Ông tỏ vẻ hoài nghi về hiệu quả của quy định này: “Chờ đến khi đó thì cán bộ bị bỏ phiếu bất tín nhiệm cũng vừa hết nhiệm kỳ rồi”.
Ông Thanh nói: “Có người bảo lấy phiếu tín nhiệm là hết nhóm lợi ích, cán bộ sẽ tốt hơn thì chưa chắc. Đừng ca ngợi việc này quá".
Ông trưởng ban nội chính giữ ý kiến cho rằng "đây mới chỉ là bước khởi đầu, cần phải từ từ xem cách đó đã tốt hay chưa".
"Còn bảo lấy phiếu tín nhiệm là bảo bối rồi thì không phải như vậy.”

'Đà Nẵng không gây thất thu 3.400 tỷ'

Kết quả bỏ phiếu tín nhiệm lãnh đạo Chính phủ và Nhà nước được công bố sáng 11/6 tại Quốc hội đã không gây bất ngờ, với toàn bộ 47 vị được bầu quá bán.
Các lá phiếu của các đại biểu Quốc hội được chia làm ba loại: tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp.
"Ở các nước, họ không làm như cách của mình. Trong quá trình làm, họ thấy anh nào có vấn đề thì họ bắt anh đó điều trần, giải trình, chất vấn công khai rồi bỏ phiếu bất tín nhiệm cho thôi việc."
Trưởng ban Nội chính Nguyễn Bá Thanh
Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó chủ tịch Quốc hội, người vừa được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị tại Hội nghị 7 tháng trước, đạt số phiếu tín nhiệm cao nhiều nhất là 372 phiếu. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình đạt số phiếu tín nhiệm thấp nhiều nhất là 209 phiếu.
Tuy nhiên, số phiếu tín nhiệm cao và tín nhiệm của ông Bình vẫn là 88 (17,67%) và 194 (38,96%), cộng lại là 56,63%, quá bán.
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng được 210 đại biểu bỏ phiếu tín nhiệm cao, 122 phiếu tín nhiệm và 160 phiếu tín nhiệm thấp.
Trong khi Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhận xét kết quả bỏ phiếu rất tốt và 'khách quan', nhiều nhà quan sát cho rằng nó chỉ có tác dụng cảnh báo.
Báo nước ngoài thì nhận xét rằng đáng ra phải bỏ phiếu bất tín nhiệm.
Ông Nguyễn Bá Thanh cũng nói với cử tri sáng 24/6: "Ở các nước, họ không làm như cách của mình".
"Trong quá trình làm, họ thấy anh nào có vấn đề thì họ bắt anh đó điều trần, giải trình, chất vấn công khai rồi bỏ phiếu bất tín nhiệm cho thôi việc."
Một chi tiết khác, là ông vẫn khẳng định Đà Nẵng không gây thất thu hơn 3.400 tỷ đồng vì chính sách đất đai như kết luận của Thanh tra Chính phủ.
Ông nói Ủy ban Nhân dân thành phố "không chấp nhận con số mà Thanh tra Chính phủ nêu ra và đã báo cáo với Thủ tướng, Bộ Chính trị".
Ông cũng nhắc lại: "Các chính sách và quản lý nhà nước về đất đai của TP Đà Nẵng là không sai".
Không hiểu động thái này của ông Thanh sẽ mang lại kết quả gì, khi từ tháng Ba, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định không cho Đà Nẵng tiếp tục giải trình về việc này.
Theo đó, TP Đà Nẵng sẽ phải thực hiện kết luận mà ông thủ tướng đã đưa ra trước đó là kiểm điểm chủ tịch, các phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, các tổ chức, cá nhân có liên quan (thời kỳ 2003-2011); và thu hồi triệt để về ngân sách số tiền phải nộp.


Copy từ: BBC

"Tôi đi hối lộ..."

"Tôi đi hối lộ..."

(Kienthuc.net.vn) - "Việc Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới chọn đề án toidihoilo.com là một trong những sáng kiến phòng chống tham nhũng tốt để đầu tư là bước khởi sự đáng vui mừng."
KS Hà Phúc Hoàn, Công ty Cổ phần Dịch vụ Dữ liệu trực tuyến Việt Nam, người giành giải sáng kiến phòng chống tham nhũng nói trên, chia sẻ với Kiến Thức.

Biết các chiêu trò hối lộ 

Mục đích làm trang web này là gì?

Thực ra thì chúng tôi bắt chước một trang web ở Ấn Độ thôi. Năm 2011, chúng tôi làm trang này để mọi người chia sẻ thông tin. Là nơi thu thập thông tin giúp các tổ chức phi chính phủ hoặc cho các ban ngành xem hàng năm tổng số tiền hối lộ là bao nhiêu, địa phương nào nhiều nhất, ngành nào nhiều nhất... Từ đó giúp nhà hoạch định chính sách có thể chỉnh sửa về luật, về chính sách cho phù hợp với thực tiễn.

Làm thế nào để người đưa hối lộ biết đến trang này để chia sẻ?

Ban đầu thì chúng tôi quảng bá trên các mạng xã hội thôi. Đến khi Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng thế giới quyết định tài trợ cho dự án này thì mọi người mới biết đến nhiều hơn. Lúc đầu thì mỗi ngày chỉ có khoảng 20 người, giờ thì mỗi ngày có khoảng hơn 2.000 lượt truy cập.

Nghĩa là bất cứ ai vào trang web này đều có thể kể những câu chuyện về hối lộ của mình hoặc bạn bè, người quen?

Đúng thế! Đó là nơi để người đưa hối lộ bày tỏ bức xúc, giống như câu chuyện kể giữa những người quen biết với nhau để mong nhận được sự chia sẻ thôi. Quan trọng là chia sẻ đó sẽ có thể đóng góp một phần vào việc thay đổi chính sách cho những năm tiếp theo. Qua đó người ta biết được các mánh lới luồn lách, các lỗ hổng pháp luật để từ đó tìm cách lấp lại.

Nhưng làm thế nào để biết tính xác thực của những chia sẻ đó?

Thực ra không ai biết chính xác những chia sẻ đó là đúng hay sai. Tuy nhiên, trang web mở ra hoàn toàn không có lợi nhuận. Người chia sẻ cũng không được lợi lộc gì cả. Họ chia sẻ việc họ phải đưa hối lộ bao nhiêu, cho ai, vì sao phải đưa, đơn giản là những bức xúc mong muốn được chia sẻ của họ thôi. Không ai vụ lợi từ trang web đó cả. Bởi thế, thông tin sẽ thật hơn.

Giả sử tôi ghét một người nào đó, tôi bịa ra chuyện ông ấy nhận hối lộ rồi đưa lên trang web thì sao?

Tên tuổi địa chỉ của bất cứ người nào, công ty nào, khi đưa lên trang web sẽ bị xoá đi. Kể cả tên của người chia sẻ điều đó. Chỉ có thông tin vị trí địa lý và thời gian. Tuy nhiên, vị trí gần nhất cũng chỉ là tên đường, thành phố. Ngoài ra có phân chia theo ngành, lĩnh vực với gần 20 ô mục. Người chia sẻ có thể chọn bất cứ lĩnh vực nào để kể câu chuyện của mình.

KS Hà Phúc Hoàn, một trong những người giành giải sáng kiến phòng chống tham nhũng. 

Chẳng ai đi hối lộ mà công khai danh tính

Vì sao trên trang web lại không lưu trữ danh tính người đưa và nhận hối lộ, đó sẽ là một dữ liệu tốt cho các cơ quan chức năng?

Chúng tôi không làm thế là bởi người dân đi hối lộ là họ rất bức xúc, rất muốn chia sẻ nhưng lại không thể chỉ mặt rõ ai đã nhận hối lộ. Là bởi việc đi hối lộ đó vẫn đáp ứng được yêu cầu là hai bên cùng có lợi. Người nhận hối lộ có quyền lợi là tiền, người đi hối lộ giải quyết được việc của mình. Nếu kể câu chuyện đó một cách thoải mái thì rất nhiều người có nhu cầu.

Tôi nghĩ nếu công khai danh tính thì sự quan tâm của dư luận sẽ rất lớn?

Ở Ấn Độ, Chính phủ nước họ cũng có một trang web để người dân tố cáo tham nhũng, trong đó phải nêu rõ ai nhận hối lộ, ai đưa hối lộ, thời gian địa điểm thế nào. Nhưng trang đó không thành công. Vì rõ ràng nếu phải cung cấp tên tuổi như thế thì họ sẽ thấy bất an, sợ bị trù dập. Làm sao biết người tiếp nhận thông tin không có quan hệ với người mình tố cáo? Thứ nữa họ cũng không muốn lằng nhằng, vì đưa hối lộ cũng có tội. Mà khi ra toà, người nhận hối lộ thường là quan chức, có quyền cao, trong khi người đưa hối lộ đa phần là người dân. Thế thì khó.

Vậy là không ai đưa hối lộ mà thích thú công khai danh tính?

Đúng thế. Ngoài bàn nhậu có thể chửi bới ầm ĩ, nhưng liệu có mấy ai dám công bố đích danh mình đưa hối lộ cho ai, bao nhiêu tiền? Theo luật thì nếu đưa hối lộ xong mới tố cáo thì người đưa hối lộ cũng bị tội như người nhận. Cái ranh giới giữa đúng và sai, có tội hay không có tội trong việc này khá là mong manh. Bởi thế mà không ai đi hối lộ mà công khai danh tính cả.

Những câu chuyện đưa hối lộ trên trang web của ông nhiều nhất là lĩnh vực nào?

Những chia sẻ trên trang này có rất nhiều vụ việc liên quan đến đưa hối lộ cho cảnh sát giao thông. Quên giấy tờ, vượt đèn đo, đi sai làn, rẽ không xi nhan... tất cả đều phải đưa tiền cho cảnh sát giao thông cho nhanh gọn, được việc. Dù số tiền không nhiều, nhưng lại phổ biến.

Giả sử khi chia sẻ mà tôi gửi kèm đoạn phim hình ảnh, ghi âm, bằng chứng của việc đưa hối lộ, ban quản trị sẽ xử lý thế nào?

Chúng tôi có làm việc cùng Thanh tra Chính phủ về điều này thì kết luận là với những bằng chứng này, chúng tôi sẽ chuyển cho thanh tra của ngành, địa phương đó để xử lý. Tuy nhiên, cái này cũng sẽ ít, vì nếu đã có những bằng chứng này là người đưa hối lộ đã có mục tiêu rõ ràng rồi. Và họ có thể gửi đến nhiều cơ quan chức năng khác nhau để xử lý.

Tới đây, người dân sẽ có một kênh chính thống để chia sẻ những câu chuyện đưa hối lộ mà không lo lắng bị ảnh hưởng đến bản thân. (Ảnh minh họa)

Cảnh sát giao thông - y tế - giáo dục

Tôi có vào trang web này xem và thấy có nhiều chia sẻ về việc mua suất vào ngân hàng, vào công chức với giá hàng trăm triệu đồng. Vậy thì theo thống kê, lĩnh vực nào nhận hối lộ với số tiền nhiều nhất?

Đầu bảng vẫn là các lĩnh vực cảnh sát giao thông, giáo dục, y tế. Nhiều người chia sẻ về lĩnh vực giao thông nhưng là những hối lộ nhỏ nhỏ. Chứ khủng khiếp nhất có lẽ phải là việc chạy công chức giáo viên. Có người chia sẻ rằng phải bỏ 40 triệu đồng chạy công chức giáo viên mà không được, tiền cũng mất. Thì các chia sẻ nói rằng có 40 triệu đồng thì làm sao vào công chức giáo viên được. 100% chia sẻ trong lĩnh vực giáo dục là chạy công chức, với giá trung bình là 150 - 200 triệu đồng mỗi suất. Ở Hà Nội thì phải 300 triệu đồng trở lên. Trong y tế thì từ việc tiêm, thay băng gạc, lấy máu... đều phải đưa tiền cho y tá.

Còn ít chia sẻ nhất là lĩnh vực nào?

Lĩnh vực hành chính xã phường là ít chia sẻ nhất và cũng với số tiền ít nhất. Tuy nhiên, nó cũng có vấn đề là những người vào trang web chia sẻ là những người ở thành phố lớn, mà những người này lại ít liên quan đến hoạt động hành chính phường xã. Còn ở các vùng khác thì người dân lại chưa có điều kiện tiếp cận đến trang web để chia sẻ.

Theo khu vực thì tỉnh nào có nhiều hối lộ nhất theo thống kê từ các chia sẻ của trang web?

Đó là Hà Nội, Nghệ An, Thanh Hoá, TP.HCM... Nó có thể chỉ là những hối lộ ở mức một vài chục ngàn cho những thủ tục hành chính đơn giản, nhưng người ta vẫn cảm thấy bức xúc. Và đa số việc nhận hối lộ của các tỉnh là từ công chức. Công chức là đối tượng nhận hối lộ nhiều.

Dự định sắp tới của ông là gì?

Chúng tôi muốn sau khi có tiền tài trợ thì sẽ tiến hành nâng cấp hệ thống, có thêm tên miền đuôi .vn để người dân có thể tin tưởng các câu chuyện hối lộ của mình.

Xin cảm ơn ông!

Thực tế, ngay cả các điều tra xã hội học cũng chỉ phát ra các phiếu điều tra để hỏi, chứ khó có thể kiểm chứng thông tin đó có thực hay không. Còn những trường hợp có ghi âm, hình ảnh, tài liệu thì là do người ta đã chủ động ghi lại. Khi đó thì các cơ quan chức năng hoàn toàn có thể xử lý được.


Copy từ: Kiến Thức

ĐẠO LUẬT NHÂN QUYỀN VIỆT NAM năm 2013 – HR 1897

Bản dịch của Huỳnh Thục Vy (Defend the Defenders)
ĐẠO LUẬT NHÂN QUYỀN VIỆT NAM năm 2013 – HR 1897.
Quốc hội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thứ 113
Phiên họp thứ nhất

H. R. 1897: Nhằm thúc đẩy Tự do và Dân chủ ở Việt Nam

Tại Hạ viện Hoa Kỳ
Ngày 8 tháng 5 năm 2013
Ngài SMITH của tiểu bang New Jersey (đại diện cho chính mình, cho ngài ROYCE, ngài WOLF, bà LOFGREN và ngài LOWENTHAL) giới thiệu đạo luật sau đây, đạo luật đã được đệ trình lên Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Hoa Kỳ.
DỰ LUẬT

Nhằm thúc đẩy Tự do và Dân chủ tại Việt Nam.

Nếu được thông qua bởi Thượng viện và Hạ viện Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trong thời gian Quốc hội nhóm họp,
PHẦN 1. TIỀU ĐỀ NGẮN. BẢNG NỘI DUNG.
(a)    Tiêu đề ngắn – Đạo luật này được gọi là “Đạo luật Nhân quyền Việt Nam năm 2013
(b)   Bảng nội dung – Bảng nội dung của Đạo luật như sau:
Phần 1. Tiêu đề ngắn; Bảng nội dung.
Phần 2. Các dữ kiện và mục đích.
Phần 3. Cấm chỉ gia tăng trợ giúp phi nhân đạo cho Chính quyền Việt Nam.
Phần 4.  Ngành ngoại giao Hoa Kỳ
Phần 5. Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc
Phần 6. Báo cáo hằng năm
PHẦN 2. CÁC DỮ KIỆN VÀ MỤC ĐÍCH
(a)    Những dữ kiện – Quốc hội thu thập được những dữ kiện sau:
(1)   Mối quan hệ giữa Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Cộng hòa XHCN Việt Nam đã phát triển vững chắc từ sau khi Lệnh cấm vận thương mại chấm dứt năm 1994, với mức trao đổi mậu dịch hằng năm giữa hai nước lên đến gần 25 tỷ trong năm 2012.
(2)   Quá trình chuyển đổi của Chính phủ Việt Nam hướng tới nền thương mại và tự do kinh tế hơn đã không song hành với cởi mởi tự do chính trị và những cải thiện thực chất về các Nhân quyền cơ bản cho người dân Việt Nam, bao gồm Tự do tôn giáo, bày tỏ quan điểm, lập hội và hội họp.
(3)   Quốc hội Hoa Kỳ chấp  thuận để Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới vào năm 2006, với niềm tin rằng chính quyền Việt Nam lúc đó đang dần cải thiện hồ sơ Nhân quyền và sẽ tiếp tục như thế.
(4)   Việt Nam vẫn duy trì một Nhà nước độc đảng, nằm dưới sự cầm quyền và kiểm soát của đảng Cộng sản Việt Nam, đảng này vẫn tiếp tục chối bỏ quyền thay đổi chính quyền của người dân.
(5)   Mặc dù trong những năm gần đây, Quốc hội Việt Nam đã đóng vai trò ngày càng tích cực như là một diễn đàn để làm nổi bật những quan ngại ở địa phương, vấn đề tham nhũng, và sự cầm quyền không hiệu quả, Quốc hội vẫn chịu sự chỉ đạo của đảng Cộng sản và đảng Cộng sản vẫn duy trì quyền kiểm soát việc chọn lựa các ứng cử viên Quốc hội trong các cuộc bầu cử quốc gia và địa phương.
(6)   Chính quyền Việt Nam ngăn cấm mọi chất vấn của người dân đối với tính chính đáng của Nhà nước độc đảng, kiềm hãm quyền Tự do bày tỏ quan điểm, báo chí, lập hội và thắt chặt việc tiếp cận internet và các phương tiện viễn thông.
(7)   Từ khi Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, chính quyền Việt Nam đã tùy tiện bắt bớ và giam giữ nhiều cá nhân vì họ đấu tranh ôn hòa cho Tự do tôn giáo, Dân chủ và Nhân quyền, bao gồm cha Nguyễn Văn Lý, các luật sư Nhân quyền Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, và Lê Công Định, và các bloggers Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần  Lê Văn Sơn.
(8)   Chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục cầm giữ, bỏ tù, quản thúc tại gia, buộc tội, hoặc nếu không thì ngăn chặn họ không được bày tỏ quan điểm  tôn giáo và chính trị đối lập một cách ôn hòa.
(9)   Chính quyền Việt Nam tiếp tục giam giữ những người lãnh đạo giới công nhân lao động và giới hạn quyền thành lập các tổ chức độc lập.
(10)   Chính quyền Việt Nam tiếp tục giới hạn quyền Tự do tôn giáo, kiềm chế hoạt động của các tổ chức tôn giáo độc lập, và sách nhiễu các tín đồ nào có các hoạt động tôn giáo bị chính quyền coi là mối đe dọa tiềm tàng cho vị trí độc tôn quyền lực của họ.
(11)     Mặc dù những tiến bộ đã được báo cáo trong việc thành lập nhà thờ và việc đăng ký hợp pháp các địa điểm hội họp tôn giáo, chính quyền Việt Nam đã ngăn tất cả các hành động tích cực nhất kể từ khi Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách “quốc gia cần đặc biệt quan tâm” (CPC) vào tháng 11 năm 2006.
(12)    Các hội thánh Tin lành sắc tộc thiểu số không được đăng ký, đặc biệt là những người Thượng ở Cao nguyên Trung phần và Tây Bắc phải chịu những hành động chà đạp khắt nghiệt của chính quyền Việt Nam, bao gồm việc bị cưỡng bách từ bỏ niềm tin, bị bắt giữ, bị sách nhiễu, bị từ chối các chương trình xã hội vốn dĩ cấp cho toàn dân, bị tịch thu và hủy hoại tài sản, bị đánh đập tàn nhẫn và chết theo như báo cáo.
(13)    Nhà cầm quyền đã có những phản ứng bạo lực đối với những buổi thức trắng cầu nguyện và những cuộc biểu tình ôn hòa của giáo dân Công giáo đòi chính quyền trả lại những tài sản của giáo hội đã bị chính quyền tịch thu. Những người biểu tình đã bị sách nhiễu, đánh đập, giam giữ và tài sản của Giáo hội đã bị hủy hoại. Những người Công giáo cũng tiếp tục đối mặt với tình trạng giới hạn trong việc lựa chọn chức sắc, giới hạn việc thành lập các chủng viện và lựa chọn chủng sinh, và nhiều trường hợp cá nhân bị giới hạn quyền đi lại và đăng ký thành lập Nhà thờ.
(14)       Vào tháng 5 năm 2010, làng Cồn Dầu, một giáo xứ ở thành phố Đà Nẵng, đã đối mặt với tình trạng bạo lực leo thang trong một đám tang khi công an cố gắng ngăn cấm một lễ mai táng theo nghi thức tôn giáo ở nghĩa trang của làng; hơn 100 dân làng đã bị thương, 62 người bị bắt giữ, 5 người bị đánh đạp và có ít nhất 3 người chết.
(15)        Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (UBCV) bị ngược đãi vì chính quyền Việt Nam tiếp tục giới hạn những liên hệ và vận động của chức sắc tăng ni của Giáo hội vì họ từ chối việc hợp nhất với Giáo hội quốc doanh, chính quyền giới hạn việc bày tỏ quan điểm và hội họp, và chính quyền cũng tiếp tục sách nhiễu và đe dọa tăng ni cùng chức sắc trẻ.
(16)         Chính quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp những sinh hoạt của các tín đồ tôn giáo khác, gồm Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo, thông qua việc sử dụng các biện pháp giam giữ, bỏ tù và giám sát nghiêm ngặt, những tín đồ này ở trong tình trạng thiếu sự công nhận chính thức hoặc đã chọn cách liên kết với các nhóm tôn giáo khác bị chính quyền chế tài.
(17)       Nhiều người Thượng và những người thuộc các sắc tộc khác vẫn đang chịu những án tù dài hạn vì liên quan đến những cuộc biểu tình ôn hòa năm 2001, 2002, 2004 và 2008. Những người Thượng vẫn tiếp tục đối mặt với việc bị đe dọa, giam giữ, đánh đập, ép buộc bỏ đạo, hủy hoại tài sản, giới hạn hoạt động và chết như trong báo cáo, trong tay các giới chức chính quyền.
(18)        Người H-mông thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, Cao nguyên Tây bắc, và Cao nguyên Trung phần của Việt Nam cũng bị kiềm chế, tịch thu tài sản, chà đạp, và ngược đãi bởi chính quyền Việt Nam.
(19)       Chính quyền Việt Nam giới hạn việc bày tỏ quan điểm, hội họp, lập hội của người Khmer Krom, chính quyền đã tịch thu gần như tất cả các chùa chiền Phật giáo Nam tông, kiểm soát tất cả các tổ chức Phật giáo của người Khmer Krom và cấm chỉ hầu hết các cuộc biểu tình phản đối ôn hòa.
(20)     Chính quyền Việt Nam kiểm soát gần như tất cả các phương tiện truyền thông điện tử và báo giấy, bao gồm kiểm soát việc tiếp cận mạng Internet, làm nhiễu sóng của một số đài phát thanh nước ngoài, trong đó có đài Á châu Tự do, và đã giam giữ cũng như bỏ tù những cá nhân đăng tải, xuất bản, gởi hoặc phổ biến các tài liệu liên quan đến Dân chủ.
(21)       Những người bị bắt ở Việt Nam vì hoạt động và gia nhập các tổ chức chính trị – tôn giáo, thường không nhận được thủ tục pháp lý thích hợp vì họ khó có thể tiếp cận với luật sư theo sự lựa chọn của mình, phải trải qua những phiên tòa đóng kín, thường bị giam giữ nhiều năm mà không được xét xử, và bị hành hạ để phải nhận những tội mà họ không phạm hoặc là phải tố cáo những người lãnh đạo tổ chức họ.
(22)       Việt Nam tiếp tục là nước cung cấp hoạt động kinh doanh tình dục và cưỡng bách lao động đối với phụ nữ và các cô gái, cũng là nước xuất khẩu lao động trong đó đàn ông và phụ nữ tham gia một cách hợp pháp vào những hợp đồng lao động quốc tế nhưng sau đó họ phải đối mặt với tình trạng bị ràng buộc bởi nợ nần hoặc cưỡng bách lao động, và là điểm đến của nạn buôn bán trẻ em và tiếp tục xảy ra tình nạn buôn người.
(23)     Có nhiều báo cáo về việc các quan chức Việt Nam và  cấp dưới  của họ tham gia, tạo điều kiện, bỏ qua hoặc đồng lõa  với các hình thức buôn người nghiêm trọng.
(24)      Các chương trình tái định cư người tỵ nạn của Hoa Kỳ, bao gồm Chương trình Tái định cư Nhân đạo (HR), Chương trình ra đi trật tự (ODP), Chương trình Cơ hội tái đinh cư cho người Việt hồi hương, việc tái định cư thông thường dành cho các thuyền nhân từ các trại tỵ nạn khắp Đông Nam Á, Đạo luật đón người Mỹ gốc Á  về Mỹ năm 1988, và Hạng mục tái định cư người tỵ nạn Ưu tiên 1, đã giúp cứu vớt những người dân Việt Nam đã bị ngược đãi vì cộng tác với Hoa Kỳ, hoặc, trong nhiều trường hợp, vì vợ chồng, cha mẹ, người thân của họ có cộng tác, cũng như những người Việt Nam bị ngược đãi vì sắc tộc, tôn giáo, quốc tịch, quan điểm chính trị, hoặc vì là thành viên của các tổ chức xã hội cá biệt.
(25)        Trong khi những chương trình trước đây đã hoàn thành mục đích, một số lớn người tỵ nạn Việt Nam đã bị từ chối hoặc loại bỏ một cách bất công, bao gồm người Mỹ gốc Á, trong vài trường hợp là vì các giới chức Việt Nam – những người có trách nhiệm kiểm soát việc tiếp cận các chương trình này – tham nhũng hoặc thù hận, và trong những trường hợp khác là vì nhân sự phía Hoa Kỳ đã áp đặt những cách giải thích thu hẹp quá mức về tiêu chuẩn của chương trình. Thêm vào đó, chính quyền Việt Nam đã từ chối cấp hộ chiếu cho những người mà phía Hoa Kỳ đã chấp nhận là đủ tiêu chuẩn để nhận được quy chế tỵ nạn.
(26)         Chính quyền Việt Nam, như trong báo cáo, đang giam giữ hàng ngàn người, trong đó có một số người mới 12 tuổi, trong các trung tâm cai nghiện của nhà nước và đối xử với họ như nô lệ lao động.
(27)       Trong năm 2012, hơn 150.000 người đã ký vào một thỉnh nguyện thư kêu gọi chính quyền Hoa Kỳ không mở rộng với mậu dịch với nước Việt Nam cộng sản với cái giá phải trả là tình trạng đàn áp nhân quyền.
(28)        Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua nhiều nghị quyết lên án tình trạng chà đạp nhân quyền ở Việt Nam, cho thấy rằng mặc dù có sự mở rộng quan hệ ngoại giao với chính quyền Việt Nam,  nhưng không nên hiểu điều đó như là sự chấp thuận cho tình trạng vi phạm các nhân quyền căn bản nghiêm trọng và vẫn đang tiếp diễn ở Việt Nam.
(b)   MỤC ĐÍCH- Mục đích của Đạo luật này là nhằm thúc đẩy sự phát triển Tự do và Dân chủ ở Việt Nam.
PHẦN 3. NGĂN CẤM TĂNG THÊM CÁC VIỆN TRỢ PHI NHÂN ĐẠO CHO CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM.
(a)    VIỆN TRỢ -
(1)   TỔNG QUAN – Trừ những trường hợp đã đưa ra ở khoản (b), Chính quyền Liên bang sẽ không đưa ra bất cứ viện trợ phi nhân đạo nào cho chính quyền Việt Nam trong suốt năm tài chính với tổng số vượt quá số lượng viện trợ như thế đã được đưa ra cho năm tài chính 2012, trừ khi:
(A) liên quan đến những giới hạn cho năm tài chính 2014, Tổng thống quyết định và xác nhận với  Quốc Hội rằng, không quá 30 ngày sau ngày ban hành đạo luật này, những quy định từ điểm (A) tới điểm (G)  trong điều (2) phải được đáp ứng trong suốt thời gian 12 tháng  kết thúc vào ngày phê chuẩn; và
(B)  liên quan đến giới hạn cho những năm tài chính tiếp theo, Tổng thống quyết định và xác nhận với Quốc Hội, trong bản báo cáo hằng năm gần nhất được đệ trình lên theo phần 6, rằng những quy định từ điểm (A) đến điểm (G) của điều (2) phải được đáp ứng trong suốt thời gian 12 tháng được tường trình bởi bản báo cáo.
(2)   NHỮNG QUY ĐỊNH– Những quy định trong điều như sau:
(A) Chính quyền Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc phóng thích tất cả các tù nhân chính trị và tôn giáo, tình trạng quản thúc tại gia, và các hình thức cầm giữ khác.
(B)  Chính quyền Việt Nam đã có những tiến bộ thực chất trong việc -
(i)     Tôn trọng quyền tự do tôn giáo, bao gồm quyền tham gia vào các định chế và sinh hoạt tôn giáo mà không bị cản trở, sách nhiễu, hoặc can thiệp bởi chính quyền, dành cho tất cả các cộng đồng tôn giáo khác nhau của Việt Nam; và
(ii)   Trả lại đất đai và tài sản đã tịch thu của các giáo hội và cộng đồng tôn giáo.
(C)  Chính quyền Việt Nam đã có những tiến bộ thực chất trong việc tôn trọng quyền tự do bày tỏ quan điểm, hội họp và lập hội, bao gồm việc trả tự do cho các nhà báo và blogger độc lập và các nhà hoạt động vì dân chủ và giới lao động.
(D) Chính quyền Việt Nam đã có những tiến bộ thực chất trong việc bãi bỏ hoặc xem xét lại các điều luật hình sự hóa các hoạt động bất đồng chính kiến ôn hòa, truyền thông độc lập, hoạt động tôn giáo không được cấp phép, và các cuộc tập hợp và biểu tình bất bạo động, theo các tiêu chuẩn và công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên tham gia.
(E)  Chính quyền Việt Nam đã đạt được những tiến bộ thực chất trong việc cho phép người dân Việt Nam được tự do tiếp cận với các chương trình tỵ nạn của Hoa Kỳ.
(F)   Chính quyền Việt Nam đã đạt được những tiến bộ thực chất trong việc tôn trọng nhân quyền của những người thuộc các nhóm sắc dân thiểu số.
(G) Không một quan chức chính quyền Việt Nam lẫn các cơ quan và thực thể nào do chính quyền Việt Nam sỡ hữu toàn bộ hoặc một phần được đồng lõa vào những hình thức buôn người nghiêm trọng, hoặc Chính quyền Việt Nam đã tiến hành những bước thích hợp để chấm dứt những sự đồng lõa như thế và buộc các quan chức, cơ quan hoặc thực thể đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm giải trình cho những hành xử của họ.
(b)   NHỮNG NGOẠI LỆ -
(1)   VIỆC TIẾP TỤC CÁC KHOẢN VIỆN TRỢ VÌ QUYỀN LỢI QUỐC GIA HOA KỲ- Không chấp nhận việc Chính quyền Việt Nam không đáp ứng được những quy định ở khoản (a)(2), Tổng thống có thể bãi bỏ việc áp dụng khoản (a) trong năm tài chính nếu -
(A) Tổng thống xác định rằng việc cấp cho chính quyền Việt Nam những khoản viện trợ phi nhân đạo ngày càng gia tăng sẽ thăng tiến mục đích của Đạo luật này hoặc nếu không thì vì quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ; và
(B)  Chính quyền Liên bang đưa ra những khoản viện trợ, ở mức độ tương thích với, hoặc vượt quá, bất cứ sự gia tăng viện trợ phi nhân đạo cho Việt Nam, đều hỗ trợ cho việc-
(i)     huấn luyện cho chính quyền Việt Nam về bổn phận tôn trọng các quyền được liệt kê trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị;
(ii) lập chương trình mang tính pháp quyền phi thương mại; và
(iii) áp dụng biện pháp khắc phục tình trạng chính quyền Việt Nam phá sóng của Đài Á châu tự do.
(2)   THỰC HIỆN THẨM QUYỀN KHƯỚC TỪ- Tổng thống có thể thực hiện thẩm quyền này theo điều (1) liên quan đến–
(A) Tất cả những khoản viện trợ phi nhân đạo của Hoa Kỳ cho Việt Nam; hoặc
(B)  Một hoặc nhiều chương trình, dự án, hoặc hoạt động viện trợ như thế.
(c)    CÁC ĐỊNH NGHĨA- Trong phần này:
(1)   VIỆN TRỢ PHI NHÂN ĐẠO – Từ “viện trợ phi nhân đạo” có nghĩa là -
(A) Bất cứ khoản viện trợ nào theo Đạo luật Viện trợ nước ngoài năm 1961 (bao gồm các chương trình theo mục IV, chương 2, phần I của Đạo luật đó, liên quan đến Hợp tác đầu tư tư nhân hải ngoại), ngoại trừ -
(i)   Viện trợ để khắc phục thảm họa, bao gồm bất cứ khoản viện trợ nào theo chương 9, phần I của Đạo luật đó;
(ii)   Viện trợ liên quan đến việc cung cấp lương thực (bao gồm việc quy đổi lương thực thành tiền) hoặc dược phẩm;
(iii)  Viện trợ  để khắc phục vấn đề môi trường ở những khu vực nhiễm Dioxin và những khoản viện trợ liên quan đến hoạt động y tế;
(iv)  Viện trợ để đối phó với các hình thức buôn người nghiêm trọng;
(v)   Viện trợ để đối phó với bệnh dịch;
(vi)  Viện trợ cho người tỵ nạn; và
(vii) Viện trợ để đối phó với bệnh HIV/AIDS, bao gồm bất cứ khoản viện trợ nào theo phần 104A của Đạo luật đó; và
(B)  Việc buôn bán, hoặc cấp vốn trong bất cứ điều kiện nào theo Đạo luật kiểm soát xuất khẩu vũ khí.
(2)   HÌNH THỨC BUÔN NGƯỜI NGHIÊM TRỌNG- Từ “hình thức buôn người nghiêm trọng” có nghĩa là bất cứ hoạt động nào được mô tả trong phần 103(8) của Đạo luật bảo vệ nạn nhân buôn người năm 2000 (Luật công 106-386 (114 Stat. 1470); 22 U.S. C. 7102 (8)).
(d)   THỜI HIỆU- Phần này sẽ có hiệu lực vào ngày ban hành đạo luật này và sẽ áp dụng cho việc cung cấp các khoản viện trợ phi nhân đạo cho chính quyền Việt Nam trong năm tài chính 2014 và những năm tài chính sau đó.
PHẦN 4. NGOẠI GIAO NHÂN DÂN CỦA HOA KỲ.
(a)    VIỆC PHÁT THANH CỦA ĐÀI Á CHÂU TỰ DO VỀ VIỆT NAM – Nhận thức của Quốc hội là Hoa Kỳ sẽ thực hiện những biện pháp khắc phục việc chính quyền Việt Nam phá sóng đài Á châu tự do và Broadcasting Board of Governors [ND: BBG là cơ quan truyền thông độc lập được bảo trợ bởi chính phủ Hoa Kỳ] không nên cắt giảm nhân viên, tài chính, hoặc giờ phát thanh của Ban Việt ngữ của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ và Đài Á châu Tự do, những biện pháp này sẽ được thực hiện hơn là giảm hoạt động của các Ban phát thanh ngoại ngữ khác.
(b)   NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH GIAO LƯU VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC CỦA HOA KỲ VỚI VIỆT NAM – Nhận thức của Quốc hội là bất cứ chương trình giao lưu văn hóa và giáo dục nào giữa Hoa Kỳ và Việt Nam nên tích cực thúc đẩy tiến những tiến bộ hướng tới tự do và dân chủ ở Việt Nam bằng cách cung cấp những cơ hội đa dạng cho người dân Việt Nam, từ cơ hội nghề nghiệp cho tới triển vọng được nhìn thấy tự do và dân chủ được thực thi và, cũng bằng cách đảm bảo rằng những công dân Việt Nam, đã biểu hiện cam kết của họ đối với những giá trị này, sẽ được bao gồm trong những chương trình như thế.
(c)    HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC – Nhận thức của Quốc hội là Ngoại trưởng Hoa Kỳ sẽ phản đối mạnh mẽ, và khuyến khích những thành viên khác của Liên Hợp quốc phản đối, việc ứng cử làm thành viên của Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc trong nhiệm kỳ bắt đầu vào năm 2014.
PHẦN 5. TỰ DO TÔN GIÁO VÀ NẠN BUÔN NGƯỜI.
(a)    Quốc gia cần đặc biệt quan tâm – Nhận thức của Quốc hội là nên đưa VN vào danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm về Tự do tôn giáo theo phần 402(b) của Đạo luật Tự do tôn giáo quốc tế năm 1998 (22 U.S.C. 6442(b)).
(b)   Tiêu chuẩn tối thiểu cho việc loại trừ nạn buôn người – Nhận thức của Quốc hội là Chính quyền Việt Nam không tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu trong việc loại trừ nạn buôn người và không có những nỗ lực nghiêm túc để tuân thủ, và sự xác quyết này sẽ được phản ánh trong bản báo cáo hằng năm trình lên Quốc hội theo quy định của phần 110(b) trong Đạo luật bảo vệ nạn nhân buôn người năm 2000 (22 U.S.C. 7107(b)).
PHẦN 6. BÁO CÁO HẰNG NĂM.
(a)    TỔNG QUAN – Không quá 6 tháng sau ngày ban hành Đạo luật này và mỗi 12 tháng sau đó, Ngoại trưởng Hoa Kỳ sẽ đệ trình lên Quốc hội một bản báo cáo về những việc sau:
(1)   Việc xác định và phê chuẩn của Tổng thống rằng những quy định từ điểm (A) đến điểm (G) của phần 3 (a)(2) đã được đáp ứng, nếu có thể áp dụng.
(2)   Nếu Tổng thống bãi bỏ việc áp dụng phần 3(a) theo phần 3(b) trong suốt thời gian báo cáo -
(A) Việc bãi bỏ dựa trên nền tảng lợi ích quốc gia Hoa Kỳ ;
(B)  Số lượng viện trợ phi nhân đạo được cấp cho chính quyền Việt Nam; và
(C)  Mô tả loại viện trợ và số lượng các khoản viện trợ tương xứng được cấp theo phần 3(b)(1)(B).
(3)   Những nỗ lực của chính phủ Hoa Kỳ nhằm đẩy mạnh việc tiếp cận của người dân Việt Nam đối với các chương trình phát thanh của đài Á châu Tự do.
(4)   Những nỗ lực nhằm đảm bảo rằng các chương trình như thế do chính phủ Hoa Kỳ thực hiện cùng với Việt Nam sẽ thúc đẩy chính sách được đề xuất trong phần 102 của Đạo luật chu cấp về Nhân quyền, người tỵ nạn, và các chính sách nước ngoài khác năm 1996 liên quan đến việc tham gia vào các chương trình giao lưu văn hóa và giáo dục.
(5)   Danh sách  những người được tin là đang ở tù, bị giam cầm, hoặc bị quản thúc tại gia, bị hành hạ, hoặc nếu không, thì bị ngược đãi bởi chính quyền Việt Nam vì họ theo đuổi các Nhân quyền được quốc tế công nhận.  Trong quá trình thu thập  những danh sách như thế, Ngoại trưởng Hoa Kỳ sẽ có những cứu xét thích hợp, bao gồm việc lưu tâm đến sự an toàn và tình trạng an ninh, và phúc lợi của những người được đưa vào danh sách cũng như gia đình họ. Thêm vào đó, Ngoại trưởng sẽ lập một danh sách các cá nhân như thế và gia đình họ, những người này có thể đủ tiêu chuẩn ra đi dưới các chương trình tỵ nạn của Hoa Kỳ.
(6)   Mô tả sự tiến triển của pháp quyền ở Việt Nam, bao gồm -
(A) Nhưng tiến bộ hướng đến việc phát triển các định chế quản trị dân chủ;
(B)  Tiến trình mà các điều luật, quy định, nguyên tắc và các hành vi pháp lý khác của chính quyền Việt Nam phát triển và trở nên có tính ràng buộc ở Việt Nam;
(C)  Mức độ mà các điều luật, quy định, nguyên tắc, các quyết định tư pháp và hành chính, và các hành vi pháp lý khác của Chính quyền Việt Nam được ban hành và có thể tiếp cận đối với công chúng;
(D) Mức độ mà các quyết định tư pháp và hành chính phù hợp với văn bản lý giải dựa trên những điều luật, quy định, nguyên tắc đã được lập thành văn bản và các hành xử pháp lý khác của Chính quyền Việt Nam;
(E)  Mức độ các cá nhân được đối xử công bằng theo luật pháp Việt Nam không phân biệt tư cách công dân, sắc tộc, tôc giáo, quan điểm chính trị, hoặc việc tham gia tổ chức hiện tại hoặc trước đây;
(F)   Mức độ các quyết định tư pháp và hành chính được độc lập khỏi những áp lực chính trị hoặc sự can thiệp của chính quyền và được xem xét lại thông qua các cơ quan có thẩm quyền phúc thẩm; và
(G) Mức độ luật pháp Việt Nam được soạn thảo và thực hiện bằng những phương cách phù hợp nhất quán với các tiêu chuẩn Nhân quyền quốc tế, bao gồm các quyền được liệt kê trong Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị.
(b)   LIÊN HỆ VỚI CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ KHÁC – Trong quá trình chuẩn bị báo cáo theo khoản (a), Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bằng những cách thích hợp, sẽ tìm cách liên hệ và giữ liên lạc với các tổ chức phi chính phủ và những nhà đấu tranh cho Nhân quyền (gồm có những người Mỹ gốc Việt và nhà đấu tranh cho Nhân quyền ở Việt Nam), bao gồm việc nhận báo cáo và những thông tin cập nhật từ các tổ chức như thế và đánh giá những bản báo cáo đó. Ngoại trưởng Hoa Kỳ cũng sẽ tìm cách hội ý với Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ trong những phần thích hợp của bản báo cáo.

Nguồn: GPO
Defend the Defenders


Copy từ: Ba Sàm

.........................................

Việt Nam đồng ý nâng cấp quan hệ với Indonesia, Thái Lan


Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang.
Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang.
Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh các nỗ lực hợp tác với các nước láng giềng trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông.

Việt Nam và Thái Lan đã ký kết thỏa thuận để nâng quan hệ song phương lên tầm đối tác chiến lược.

Thỏa thuận này được ký trong chuyến đi của Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam tới thăm Thái Lan, bởi ông Nguyễn Phú Trọng và Thủ Tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra.

Hãng tin chính thức của Thái Lan tường trình rằng đây là chuyến thăm Thái Lan  đầu tiên của ông Nguyễn Phú Trọng từ khi ông lên nhậm chức Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam hồi năm 2011, và cũng là chuyến đi thăm Thái Lan đầu tiên của ông trong vòng 20 năm.

Vẫn theo bản tìn này, tại cuộc họp báo chung sau lễ ký kết thỏa thuận, ông Nguyễn Phú Trọng ca ngợi thành quả của cuộc gặp gỡ, và Thủ Tướng nước chủ nhà, bà Yingluck Shinawatra nói rằng việc thiết lập các quan hệ đối tác với Việt Nam sẽ giúp củng cố quan hệ song phương và đa dạng hóa các lãnh vực hợp tác.

Hai nước đồng ý sẽ tìm cách nâng tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều từ hơn 8,6 tỉ đôla hiện nay lên 15 tỉ đôla trước năm 2020.

Cùng lúc, tin của Vietnamnet hôm nay tường trình rằng giới lãnh đạo Việt Nam và Indonesia đang chuẩn bị nâng quan hệ song phương lên tầm đối tác chiến lược trong chuyến đi 2 ngày của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới thăm Indonesia, bắt đầu từ ngày 27 tháng 6.

Việt Nam là một trong 14 nước có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Indonesia.

Hiện Indonesia là đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam ở Đông Nam Á. Kim ngạch mậu dịch hai chiều tăng đều đặn từ 3,3 tỉ đôla hồi năm 2010 lên tới 4,6 tỉ đôla hồi năm ngoái. Con số này dự kiến sẽ vượt quá 5 tỉ đôla trước năm 2015.

Hai nước đã thiết lập bang giao ở cấp tổng lãnh sự từ năm 1955, sau đó được nâng cấp lên cấp đại sứ từ năm 1964. Vietnamnet nói rằng trong 10 năm qua, quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Indonesia tiếp tục phát triển.

Tuy nhiên, trong các nỗ lực ngoại giao mới nhất của Việt Nam, người ta không thấy Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đóng vai trò nổi bật như trong quá khứ.

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt là một nhà hoạt động đấu tranh để dân chủ hóa Việt Nam. Ông đã từng bị cầm tù tại Việt Nam trong nhiều năm trước khi sang Hoa Kỳ đoàn tụ với gia đình.

Trả lời Ban Việt ngữ Đài VOA về các nỗ lực ngoại giao của Hà nội trong mấy ngày gần đây, Giaó sư Hoạt nhận định:

“Tôi cho đây là một cố gắng để quân bình ảnh hưởng của Trung Quốc, nhưng những chuyến đi sang Indonesia và Thái Lan chắc chắn không thể quân bình được với Trung Quốc. Nước có thể quân bình với Trung Quốc là Hoa Kỳ, thì hiện nay chưa thể nào đi tới được quan hệ chiến lược. Để có quan hệ chiến lược thì chắc chắn đầu tiên là phải có quan hệ với các đồng minh của Hoa Kỳ. Hai nước đồng minh ở Á Châu của Hoa Kỳ là Philippines và Nhật Bản, kế đó là Singapore- cũng rất thân với Mỹ. Cho tới nay thì chưa thấy có tiến bộ nào vềø hướng đó cả, và do đó vai trò của ông Nguyễn Tấn Dũng mờ nhạt đi trong các cố gắng ngoại giao gần đây thì cũng có thể hiểu được, bởi vì ông Dũng dễ gần với mấy nước kia hơn. Thành ra tôi cho rằng các cố gắng ngoại giao này nó không đạt được kết quả, nếu chỉ muốn nhằm quân bình với Trung Quốc.”

Lãnh đạo 2 nước đã qua lại thăm viếng nhau, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đi thăm Indonesia vào năm 2011, và Tổng Thống Indonesia Yudhoyono thực hiện chuyến công du chính thức tới Việt Nam hồi năm trước đó.

Nguồn: Tuoi Tre, Jakarta Post, National News of Thailand


Copy từ: VOA

Facebook, nỗi sợ của đảng cộng sản Việt Nam

Kính Hòa, phóng viên RFA
2013-06-26
1b1f4abe6920e0a58dc7cb39e2688de1-305.jpg
Sau khi vượt tường lửa mới có thể truy cập trang facebook tiếng Việt tại Việt Nam.
Screen capture


Việt Nam sẽ ngăn chận mạng xã hội Facebook là điều mà giới chơi facebook quan tâm nhất hiện nay. Liệu lo ngại này có trờ thành sự thật?

Ảnh hưởng an ninh quốc gia?

Cộng đồng mạng đang chuyền nhau một công văn của cơ quan công quyền Việt Nam về việc ngăn chặn Facebook. Trước đây ít lâu, một nhân viên của Viettel, công ty cung cấp dịch vụ Internet lớn tại Việt Nam có cho thông tín viên An Nhiên của chúng tôi biết rằng:
Hiện giờ, đối với trang mạng facebook đang có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia nên cơ quan có chức năng đã chặn…”
Hưởng ứng mộp cách nhiệt tình với những tin này, một nhà báo lề phải là Đỗ Doãn Hoàng tuyên bố rằng, muốn trở thành nhà báo tử tế thì phải bỏ Facebook đi.
Từ khi trang mạng Facebook ra đời đã có nhiều lời đồn đoán rằng nó bị nhà cầm quyền Việt Nam ngăn chặn, tới mức có lần cựu chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết phải đối diện với một câu hỏi của truyền thông nước ngoài rằng tại Việt Nam Facebook có bị chặn hay không. Trên thực tế việc truy cập Facebook trong nước thường xuyên gặp khó khăn.
Ông Triết, cũng như nhiều nhà chính trị Việt nam đương đại, đã không trả lời câu hỏi đó một cách trực tiếp. Công luận không lạ gì cách trả lời không trực tiếp của các nhà lãnh đạo Việt Nam, cũng như những chuyện kiểm duyệt, ngăn cấm không bao giờ được công khai.
Hiện giờ, đối với trang mạng facebook đang có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia nên cơ quan có chức năng đã chặn.
-Một nhân viên cty Viettel
Thế nào là ảnh hưởng đến an ninh quốc gia?
Những facebooker có thể làm gì để có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia?
Có hai điều mà các chế độ toàn trị rất sợ khi thống trị xã hội. Thứ nhất là thông tin mà đảng cầm quyền muốn giấu bị tiết lộ ra ngoài. Thứ hai là sự tập hợp lại của các công dân mà họ cai trị. Và đó chính là an ninh quốc gia của họ.
Về điều thứ nhất, dưới sự che dấu thông tin của đảng cộng sản, những tin đồn, những câu chuyện khôi hài chế giễu chế độ, từ lâu vẫn tồn tại, trước khi Facebook ra đời, và thậm chí trước cả Internet. Nhưng trong một cơ cấu cai trị với những tế bào cơ bản là chi bộ đảng bám rễ đến tận làng xã, đảng cộng sản hoàn toàn có thể kiểm soát những tin đồn ấy. Nay với Facebook, nó vượt tầm kiểm soát của đảng, đến từng cá nhân riêng lẻ với tốc độ ánh sáng.
Nhưng tin đồn, ngay cả khi nó là sự thật mà chỉ tồn tại trên màn hình máy tính, hay qua cửa miệng người dân, thì cũng chẳng gây được tác hại gì. Tin đồn ấy chỉ có nghĩa khi được nghe và hiểu bởi một tập hợp con người. Và đó chính là nỗi sợ thứ hai của đảng cộng sản, và có lẽ là nỗi sợ lớn nhất.

Những người tù tiềm năng

IMG_6778-250.jpg
Công văn Tập đoàn Bưu chính Viễn thông chỉ đạo các công ty trực thuộc tại các tỉnh phải chặn truy cập trang Facebook.
Từ khi nắm chính quyền đến nay, đảng cộng sản đã dẹp tan hết các nhóm chính trị hay nghề nghiệp mang tính dân sự mà họ không thể kiểm soát. Nhóm Nhân văn giai phẩm ở miền Bắc trước kia và nhóm Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ ở miền Nam là những tập hợp như vậy. Tương tự, các hội nghề nghiệp cũng được đảng cộng sản chăm sóc kỹ càng, và trên thực tế không có một hiệp hội thực sự nào ở Việt Nam. Điều đó được minh chứng qua nỗi gian truân của Luật Lập Hội, cho đến ngày hôm nay cũng chưa được ra đời.
Sự thành lập các hiệp hội, tập hợp những con người giống nhau, cùng chia sẻ những giá trị chung, chính là nền tảng của xã hội dân sự hiện đại. Xã hội dân sự ấy góp phần thúc đẩy một tiến trình đối thoại hài hòa trong xã hội, cân bằng quyền lực với giai tầng cầm quyền cũng như giới tài phiệt mà bây giờ được định hình là nhóm lợi ích.
Luật lập hội vẫn chưa bao giờ đuợc thông qua tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và hơn thế nữa, bất cứ một cuộc tập hợp nào từ năm người trở lên đều phải xin phép nơi công cộng, một điều luật làm cho mọi công dân Việt Nam có thể trở thành những người tù tiềm năng.
Nay Facebook, ngoài khả năng truyền tin như ánh sáng của nó, lại thúc đẩy sự tập hợp. Các tập hợp hơn năm người nơi công cộng không được phép, nhưng Facebook lại tạo điều kiện thành lập những tập hợp hàng trăm, hàng ngàn người.
Nhà văn Mỹ gốc Việt Andrew Lâm, có nhận xét về sự giành lại không gian công của giới văn nghệ sĩ Việt Nam như sau:
“Có một không gian công cộng trên mạng. Bên ngoài thì là của nhà cầm quyền, nhưng trên Internet thì người ta có thể nói thật cái gì người ta nghĩ.”
Từ sự chiếm lĩnh lại không gian công cộng, không gian bày tỏ ý kiến, cho đến sự thành lập các nhóm dân sự là không bao xa. Và đảng cộng sản chắc sẽ không thích thú điều đó.
Có một không gian công cộng trên mạng. Bên ngoài thì là của nhà cầm quyền, nhưng trên Internet thì người ta có thể nói thật cái gì người ta nghĩ.
-Andrew Lâm
Năm 2013 đã chứng kiến Nhóm kiến nghị 72 của các nhân sĩ trí thức ra đời với sự trợ giúp của internet. Sự đòi hỏi thẳng thắn của nhóm này về việc bãi bỏ Điều Bốn trong Hiến pháp, qui định đảng cộng sản là đảng duy nhất cầm quyền, đã làm cho nó mang hình ảnh, bản chất đúng nghĩa của một nhóm dân sự, đó là cân bằng quyền lực, đấu tranh quyền lực với giới cầm quyền.
Hỗ trợ cho việc lan truyền ý tưởng của nhóm 72 chính là Facebook. Sau đó, một loạt các nhóm khác cũng được hình thành trên sự kết nối mênh mông và hiệu quả của Facebook, một trong những nhóm đó là Nhóm các công dân tự do, cũng đòi viết lại Hiến Pháp.
Nếu không có Facebook thì vẫn có những trung tâm phát tán tư tưởng, ý kiến trái chiều với đảng cộng sản, đó là các trang mạng, các blog vô cùng đa dạng trong cuộc sống hiện đại. Nhưng Facebook lại tạo điều kiện cho các trung tâm ấy kết nối, trao đổi. Trước đây thì chỉ có người quan tâm đến các trang mạng, các blog mới theo dõi những ý tưởng của chúng rồi truyền bá cho nhau. Nay sự kết nối của Facebook cũng có thể khiến kẻ bàng quan cũng phải chú ý, đánh thức những quan điểm tiềm ẩn trong con người họ, và từ đó họ tự nguyện đi đến chia sẻ với những người đồng điệu, đồng lý tưởng với mình trong xã hội dân sự. Cứ như thế mà những nhóm độc lập trên Facebook được hình thành và phát triển.
Và biết đâu những nhóm ấy sẽ xuất hiện một lúc nào đấy trên dường phố. Lúc đó, nỗi ám ảnh của đảng cộng sản sẽ thành hiện thực.
Nếu chỉ có internet, mà khả năng tiếp cận của số đông dân chúng là không cao, nó sẽ không làm đảng cộng sản lo ngại. Nhưng đứa con lanh lợi của internet là Facebook thì lại thúc đẩy sự tiếp cận, và điều quan trọng là nó làm cho người ta tập hơp lại, hình thành xã hội công dân.
Đã có hai blogger bị bắt trong thời gian gần đây, vì lý do này hay lý do khác mà người ta tha hồ đồn đoán. Rồi lại có cả tin đồn rằng một danh sách 20 người khác sẽ bị bắt. Nhưng có vẻ như theo quan điểm của đảng cộng sản thì cũng phải cầm tù luôn cả kẻ đồng lõa của các blogger là Facebook.


Copy từ: RFA