CHƯA TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐỜI.

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

“Ngọc” đổi gạo, cơm thịt chuột


buc anh buon 1Thống kê chính thức cho thấy, năm 2012, trong chính  năm đất nước vươn lên vị trí cường quốc xuất khẩu gạo số 1 thế giới, vẫn còn 450,3 nghìn lượt hộ, 1.911,8 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói. Hàng triệu lượt người thiếu đói. Đó là một sự thật.

Bản tin “Chào buổi sáng” ngày 12.1, VTV phát một phóng sự rớt nước mắt về những đứa trò nhỏ ở Bắc Yên, Sơn La: Ở lán. Không cửa, phải leo ra leo vào như khỉ. 5 độ C. Không ngủ được thì sao? “Không ngủ được thì thức”. Cơm được nấu trong một chiếc nồi không vung. Và không có gì ăn, các cháu phải bẫy chuột làm thức ăn. “Thoạt đầu chúng tôi không hiểu và chúng tôi cũng chỉ nghĩ rằng những chiếc bẫy này thì dùng để diệt chuột. Thế nhưng hỏi các em thì mới biết được rằng đây lại là cách của các em để cái thiện bữa ăn”.
Có bao giờ bạn thấy xấu hổ khi nhìn những tấm biển, bằng tiếng Việt, ở một khu du lịch nào đó ở Thái LanXin vui lòng ăn bấy nhiêu, lấy bấy nhiêu, ăn không hết sẽ bị phạt từ 200 bath đến 500 bath”?
Có bao giờ trước một bữa buffet, nơi thức ăn bị bỏ lại thừa mứa, bạn nghĩ đến những đứa trẻ vùng cao đang phải bẫy chuột để ăn?
Ngày hôm qua, Chương trình Cơm có thịt của nhà báo Trần Đăng Tuấn đưa về Hà Nội để chữa bệnh cho một cô bé người Mông. Hầu Thị Ly, học sinh lớp 7 trường THCS Pa Cheo, Bát Xát, Lào Cai. Hầu Thị Ly thường xuyên ngất xỉu. Và ngay trước khi được đón về Hà Nội, gia đình đang “cúng ma” vì cho rằng cô bé bị “ma làm”. Có một chi tiết nói ra thật đau lòng. Hầu Thị Ly không ăn thịt. Vì sao ư? Vì đã từ tết năm ngoái, cô bé đã “quên” mùi vị của một miếng thịt. Chẳng biết đâu, căn bệnh ngất xỉu của Hầu Thị Ly bắt đầu từ những bữa ăn “chay trường” quanh năm.
Cũng trong ngày hôm qua, tờ Sài gòn tiếp thị kể về những cảnh đời ở Châu Thành A, Hậu Giang đem “ngọc” đổi gạo. Đó là một anh Ba Ni nào đó “Không có miếng đất cấy trồng nào, quanh năm suốt tháng, cả chồng lẫn vợ chỉ biết đi làm mướn nuôi con”. Và rồi, người đàn ông này, như hơn 360 người khác, quyết định đi đình sản, nói như dư luận mà bài báo dẫn, là “thiến”, là “đổi ngọc lấy gạo”.. “Thiến”, để được 800 ngàn đồng bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ “để dành… mua gạo ăn dần”. Thật đau lòng khi nghe lời thổn thức của vợ anh Ba: “Hồi đó cưới nhau lành lặn, bây giờ… làm vậy thấy nó ngồ ngộ! Phải chi bị tai nạn hay bệnh tật gì mà buộc phải vậy thì đành chịu, đàng này… Nhưng thôi, số mình nghèo nên chịu… vậy!”.
Đói cơm. Đói thịt. Đói một cách vật lý. Không phải chỉ những đứa trẻ vùng cao. Không chỉ những người dân không đất Hậu Giang. Thống kê chính thức cho thấy, năm 2012, trong chính  năm đất nước vươn lên vị trí cường quốc xuất khẩu gạo số 1 thế giới, vẫn còn 450,3 nghìn lượt hộ, 1.911,8 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói. Hàng triệu lượt người thiếu đói. Đó là một sự thật.
“Bây giờ mình không thiếu gạo, mình cũng viện trợ nơi này nơi khác, vậy tại sao để con cháu mình trong cảnh cháu mang mì, cháu mang ngô, cháu mang khoai đến lớp, rồi phải lợp chòi nấu ăn?”. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đặt câu hỏi ra một câu hỏi không nhỏ với lãnh đạo ngành lao động – thương binh và xã hội trong hội nghị trực tuyến của bộ này vào sáng 7-1.
Trong năm 2012, 22,6 nghìn tấn lương thực và 24,4 tỷ đồng đã được dùng để cứu đói cho những người như Ba Ni.
Rồi thì từ cuối tháng 10-2011, Thủ tướng cũng đã có quyết định (số 60) hỗ trợ bữa ăn trưa 120 ngàn đồng/tháng cho trẻ mầm non 3, 4 tuổi. Theo nhà báo Trần Đăng Tuấn, đa số trong số 46 trường mầm non đang được Chương trình thiện nguyện “Cơm có thịt” của ông giúp đỡ (tổng số 5.800 cháu 3, 4 tuổi) chưa nhận được tiền hỗ trợ này. Các cô giáo cho biết tiền đã được chuyển về huyện nhưng chưa chi vì thiếu văn bản hướng dẫn nên nơi làm, nơi chưa dám làm.
Xin cảm ơn Thủ tướng, cảm ơn Chính phủ đã không quên những người dân nghèo, không quên những đứa bé vùng cao. Nhưng đã 13 tháng trôi sau khi quyết định của Thủ tướng có hiệu lực, cơm cũng chưa có mà thịt cũng không. Và những đứa bé vùng cao vẫn tiếp tục phải “bẫy chuột” trước khi quên hẳn mùi vị của một miếng thịt, trước khi “bỗng nhiên ngất xỉu” như Hầu Thị Ly.
Gạo không thiếu. Chính sách không thiếu. Cái thiếu dường như là trách nhiệm, và một chữ tâm của những người thực thi chính sách.



Copy từ: Đào Tuấn


Thư của Ban CN khối Trí thức thuộc CLB Truyền thống Kháng chiến TP HCM gửi lãnh đạo TP



Thư của Ban Chủ nhiệm khối Trí thức thuộc Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến TP HCM gửi lãnh đạo Thành phố












Các tác giả gửi trực tiếp cho Bauxite Việt Nam

Chí Phèo sẽ tiêu nếu không thay đổi.


Bắc Triều Tiên : Chế độ sẽ lâm nguy nếu không cải cách

Lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong un. Ảnh chụp tại Bình Nhưỡng, ngày 19/04/2012
Lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong un. Ảnh chụp tại Bình Nhưỡng, ngày 19/04/2012
Reuters

Lê Phước
Một câu hỏi dường như muôn thuở được dành cho chế độ Bình Nhưỡng, đó là : Chế độ này có trụ được lâu dài hay không ? Sau khi Kim Jong-un lên « nối ngôi » cha hồi cuối năm 2011, câu hỏi này lại trở nên thời sự hơn bao giờ hết. Tạp chí L’Express số ra tuần này đăng bài phỏng vấn một chuyên gia về Bắc Triều Tiên, nhà nghiên cứu Andrei Lankov thuộc đại học Kookmin tại Hàn Quốc. Ông cảnh báo, nếu không cải cách, thì chế độ Bình Nhưỡng sẽ khó tránh một cuộc nổi dậy của dân chúng.

Nội trị : Nghèo đói đe dọa
Tờ báo nhắc lại sự kiện đến thăm Bắc Triều Tiên của ông chủ hãng Google Eric Schmidt và cựu đại diện Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc ông Bill Richardson. Một tuần trước đó, nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong-un đã tuyên bố sẽ tiến hành « một sự chuyển hướng toàn diện » để vực dậy nền kinh tế đất nước. Đó có phải là những dấu hiệu cho phép hi vọng có những cải cách qui mô tại Bắc Triều Tiên ? Nhà nghiên cứu Andrei Lankov tỏ ra bi quan nhiều hơn là lạc quan về viễn ảnh này.
Ông Lankov cho rằng, nếu đem so sánh mức sống của người dân giữa Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên, thì quả là một trời một vực : Người Hàn Quốc thì sống trong nhung lụa, còn người Bắc Triều Tiên thì chỉ đơn giản như thế này : « Giàu sang, tức là ăn thịt một tuần được hai lần ».
Dù rằng chính quyền Bình Nhưỡng ra sức bưng bít thông tin để cho dân chúng không nhìn thấy thế giới to đẹp bên ngoài, nhưng nhà nghiên cứu Lankov cho rằng, với sự phát triển của công nghệ thông tin ngày nay, dần dần bầu trời thông tin của người miền Bắc sẽ được xua tan lớp mây mù. Và khi người miền Bắc biết rõ thế giới bên ngoài, nhất là biết rõ về cuộc sống thịnh vượng của người miền Nam, thì theo ông Lankov, sẽ khó tránh được một cuộc nổi dậy của dân chúng tại Bắc Triều Tiên.
Ngoại giao : Đầy rủi ro
Trong lĩnh vực ngoại giao, đồng minh thân cận nhất của Bắc Triều Tiên đến hiện tại vẫn là Trung Quốc. Thế nhưng, thậm chí với đồng minh gần như duy nhất này, chế độ Bình Nhưỡng cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro.
Theo ông Lankov, để tồn tại, chế độ Bình Nhưỡng chắc chắn phải dựa vào Bắc Kinh. Mà nếu muốn duy trì ảnh hưởng tại Bắc Triều Tiên, và muốn duy trì chế độ Bình Nhưỡng hiện hành, thì Bắc Kinh phải chịu khó ra sức tiêu tốn cho Bình Nhưỡng. Trong trường hợp này, chắc chắn đó không phải là sự giúp đỡ vô tư và miễn phí, mà luôn kèm theo nhiều điều kiện. Nếu Bình Nhưỡng muốn tồn tại mà chấp nhận điều kiện áp đặt của Bắc Kinh, thì chủ quyền quốc gia của Bắc Triều Tiên sẽ bị tổn hại.
Còn đối với miền Nam, ông Lankov cho rằng, dù nữ tổng thống tân cử Park Geun-hye đã tuyên bố lập trường « thống nhất dần dần giữa hai miền Triều Tiên », nhưng điều đó khó có thể thành hiện thực.
Thứ nhất, nếu muốn thống nhất hai miền, thì chắc chắn chế độ Bình Nhưỡng phải sụp đổ. Mà như thế thì làm gì nhà họ Kim ở miền Bắc lại chấp nhận. Hơn nữa, sự thống nhất quá ồn ào cũng không được người miền Nam đón nhận, bởi họ luôn nuôi « ảo tưởng » về « một sự thống nhất ngọt ngào ».
Khó khăn kế đến, đó là cái giá thống nhất quá đắt đối với Hàn Quốc, tức chính quyền miền Nam sau khi thống nhất, phải è cổ chi những khoản tiền khổng lồ để giúp miền Bắc phát triển theo kịp miền Nam.
Chưa hết, ông Lankov nhấn mạnh, chính quyền miền Nam mới chuẩn bị những dự án ngắn hạn chứ chưa sẵn sàng cho một kế hoạch dài hạn. Tức là miền Nam chỉ mới tính đến chuyện, sau khi chính quyền miền Bắc sụp đổ, miền Nam phải làm sao cứu trợ lương thực khẩn cấp những vùng cần thiết ? Làm sao đảm bảo an ninh ở khu quân sự, nhất những khu hạt nhân ở miền Bắc ? Còn những vấn đề mang tính dài hạn nhưng rất quan trọng thì miền Nam chưa tính đến như việc làm sao tái xây dựng xã hội miền Bắc ? Phải xử lí thế nào với trên một triệu quân nhân miền Bắc ?...
Trung Quốc đau đầu với Bắc Triều Tiên
Trong bối cảnh nêu trên, Trung Quốc đang đứng trước một câu hỏi lớn : Can thiệp hay không can thiệp ?
Theo ông Lankov, giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn chưa dứt khoát về hồ sơ này. Nếu muốn chế độ Bình Nhưỡng sụp đổ bằng bạo lực, thì chiến tranh giữa hai miền Triều Tiên sẽ xảy ra và sẽ gây bất ổn cho khu vực Đông Á vốn rất phát triển và thịnh vượng. Khi đó, nếu Trung Quốc can thiệp thì rất tốn kém, trên phương diện tài chính cũng như ngoại giao. Còn ngược lại, nếu không can thiệp, thì có nghĩa là Bắc Kinh chấp nhận để số phận của chế độ Bình Nhưỡng cho Hàn Quốc định đoạt. Bắc Kinh đúng là đang ở thế « tiến thoái lưỡng nan ».
Báo chí Trung Quốc : Mượn chuyện Đài Loan để chửi xéo Bắc Kinh
« Chỉ chó mắng mèo » là một thuật rất đắc dụng trong nghệ thuật hùng biện của Trung Quốc. Tờ Nam Phương Chu mạt tại Quảng Đông vừa sử dụng thuật này bằng việc mượn chuyện Đài Loan để chửi xéo Bắc Kinh. Courrier International trích dịch một bài của tờ báo này với dòng tựa : « Khi Đài Loan tạo cảm hứng cho báo chí Trung Quốc đại lục ».
Bài viết lược lại cuộc đời và sự nghiệp của ông Tưởng Kinh Quốc, tổng thống Đài Loan từ năm 1978 đến 1988, là con trai của người sáng lập Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch. Tờ báo không tiếc lời ca ngợi công trạng của ông Tưởng Kinh Quốc và cho rằng ông này đã có nhiều đóng góp cho việc mở cửa và phát triển tế của Đài Loan.
Tờ báo đặc biệt chú ý đến việc ông Tưởng Kinh Quốc đã mở đường cho việc tái lập rồi tăng cường quan hệ với Đại lục. Thế nhưng, Nam Phương Chu mạt nhấn mạnh nhiều đến sự kiện ông Tưởng đã quyết định chấp dứt tình trạng thiết quân luật tại Đài Loan vào năm 1987, đã có nhiều đóng góp cho quyền tự do dân chủ tại Đài Loan.
Tờ báo cho biết, theo thăm dò gần đây của kênh truyền hình TVBS tại Đài Loan, trong số các đời tổng thống Đài Loan, ông Tưởng Kinh Quốc được lòng dân chúng nhất với 49% số người ủng hộ, trong khi cha ông là ông Tưởng Giới Thạch chỉ chiếm có 9%, người kế nhiệm ông là cựu tổng thống Lý Đăng Huy cũng chỉ được có 12%.
Nam Phương Chu mạt nhận định : Người lãnh đạo một đất nước giống như là người lèo lái một con thuyền, và chính những khúc quanh của dòng sông mới cho thấy sự khéo léo của người cầm lái ; ông Tưởng Kinh Quốc khi chèo lái con tàu Đài Loan, ông đã vừa nghĩ đến con thuyền của ông và nghĩ đến cả những hành khách. Tức là ông không chỉ biết lo cho vị trí của mình mà còn lo cho người dân nữa.
Tuần báo Quảng Đông kết luận : Có người cho rằng, ông Tưởng đã cố tình làm vậy, một phần là vì ông muốn để lại tiếng thơm trong lịch sử, tức là cũng vì cái danh vọng của riêng ông ; Dù việc đó có đúng hay không, tờ báo nhấn mạnh, những ai đủ khôn ngoan trong cuộc đời này điều hiểu rõ rằng, chính hành động của mỗi người sẽ quyết định tiếng tăm của họ trong hậu thế, và chính hành động của ông Tưởng Kinh Quốc đã tạo ra những trang sử của ông trong hiện tại.
Thái Lan : Ai dám xúc phạm Hoàng gia ?
Tại Thái Lan, đất nước có vẻ như mở cửa và rất tự do, người dân lại luôn phải đề phòng một tội mà người dân ở nhiều nước khác chỉ còn biết đến trong lịch sử : Tội khi quân. Phụ trang cuối tuần báo Le Monde quan tâm đến chủ đề này với bài viết: « Hoàng gia Thái Lan không để bị xúc phạm ».
Tờ báo cho biết, số vụ bị kết tội khi quân tại Thái Lan gia tăng với mức đáng lo ngại : Từ năm 2005 đến nay, con số này đã tăng đến 10 lần. Tội khi quân được qui định tại điều 112 của luật hình sự Thái Lan, theo đó, người phạm tội có thể bị phạt đến 15 năm tù.
Thái Lan là nước theo chế độ quân chủ lập hiến từ năm 1932. Thế nhưng, Le Monde cho biết, thật ngược đời, Thái Lan thời quân chủ lập hiến còn khép tội khi quân nhiều hơn Thái Lan thời quân chủ chuyên chế trước kia.
Bàn về khả năng sửa đổi điều 112 nói trên, tờ báo cho rằng viễn ảnh rất u ám. Tờ báo dẫn ra hai trường hợp bị khép tội khi quân mới nhất tại Thái Lan để minh chứng cho sự u ám đó. Trường hợp thứ nhất là một nhân viên ngân hàng tại Bangkok, bị kêu án bốn năm tù, vì đã đăng tải trên Internet những thông tin về tình hình sức khỏe của đức vua.
Người thứ hai là cựu tổng biên tập của một tờ tạp chí tại Thái Lan, bị mang ra xét xử hồi cuối tháng 12/2012 vì đã cho đăng trên Internet các bài về lịch hai thế kỷ qua của Thái Lan, bị nhà cầm quyền cho là có ý đồ tuyên truyền phản đối chế độ quân chủ.
Liên quan đến thái độ của chính phủ Thái Lan, Le Monde nhận định, đương kim thủ tướng Yinluck Shinawatra và chính phủ của bà luôn giữ thái độ dè dặt trong những vụ việc nhạy cảm có liên quan đến Hoàng gia, bởi thế, chính phủ này không dại gì can thiệp vào việc thúc đẩy sửa đổi điều luật nói trên để bị hứng búa rìu của xã hội Thái Lan vốn dĩ rất tôn sùng Hoàng gia.
Pháp-Đức : Đồng sàng dị mộng
Nhìn sang châu Âu, tuần san Courrier International dành trang nhất đăng ảnh thủ tướng Đức Angela Merkel với một hồ sơ cho biết, bà Merkel không chỉ được lòng dân tại Đức mà báo chí châu Âu nhìn chung, cũng không tiếc lời ca ngợi bà. Trong số các bài viết có liên quan đến bà, Courrier International dẫn lại một bài đáng chú ý của tờ nhật báo Der Spiegel tại Hambourg với dòng tựa : « Merkel, Hollande : Hai thế giới song song ».
Hai thế giới vì song song nên chẳng bao giờ gặp được nhau, đó là thực trạng trong quan hệ Đức-Pháp dưới thời Angela Merkel và François Hollande. Đây là hai nước đầu tàu châu Âu, nên sự đồng sàng dị mộng này sẽ đe dọa không ít đến sự phát triển của cả châu Âu.
Tờ báo nhắc lại, dưới thời các lãnh đạo Đức-Pháp như Adenauer-De Gaulle, Schmidt-Giscard D’Estaing, Kohl-Mitterrand, nguyên thủ hai nước đã biết tìm ra tiếng nói chung hơn là tìm ra chủ đề gây cho rẽ. Chỉ mới đây thôi, cặp Merkel-Sarkozy cũng biết cố gằng tỏ ra đồng thuận.
Thế mà hiện tại, dưới thời Merkel-Hollande, quan hệ Đức-Pháp ngày càng lạnh nhạt. Tờ báo cho biết, ông Hollande thì không quên việc bà Merkel đã ra sức ủng hộ ông Sarkozy trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp hồi tháng Năm năm ngoái, còn bà Merkel thì nghi ngờ ông Hollande đang vận động ngầm cho ứng viên cạnh tranh chiếc ghế thủ tướng của bà.
Liên quan đến châu Âu, thì ông Hollande và bà Merkel cũng không thiếu sự nghi kị lẫn nhau trên mọi hồ sơ. Tờ báo cho biết, ông Hollande nghi ngờ Berlin lợi dụng các vấn đề tài chính để thực hiện ý đồ thống trị châu Âu. Bà Merkel cho rằng, ông Hollande muốn xây dựng một trục Paris-Roma-Madrid để chống Đức.
Hồ sơ gai góc nhất hiện nay của Liên Hiệp Châu Âu là khắc khổ hay không khắc khổ để có thể thoát ra khủng hoảng. Trên hồ sơ hóc búa nhất này, sự đối chọi giữa ông Hollande và bà Merkel cũng trở nên dữ dội nhất. Bà Merkel buộc các nước lâm nguy phải thắt lưng buộc bụng, còn ông Hollande thì không ngại tuyên bố : « Nước Pháp có trách nhiệm kiên trì nhắc nhở các đối tác của mình rằng, có những biện pháp khác thay vì khắc khổ ».
Le Monde còn nêu ra nhiều vụ việc khác cho thấy sự bất đồng giữa ông Hollande và bà Merkel và nhận định : Chưa một khủng hoảng nào giữa Đức và Pháp lại bị đẩy tới bất đồng đến mức như vậy.
Tờ báo cho biết, trong mớ bòng bong bất đồng đó, giữa hai người còn có một điểm chung, mà lại là điểm rất quan trọng : Hai bên đều cho rằng nếu để cuộc khủng hoảng euro trầm trọng thêm thì hậu quả sẽ khôn lường. Thế nhưng, trớ trêu thay, chính trên hồ sơ quan trọng nhất này, tổng thống Hollande và thủ tướng Merkel lại tỏ bất đồng hơn bao giờ hết.
Đức : Không mạnh như người ta tưởng
Đức được xem là đầu tàu kinh tế số một của châu Âu. Trong thời buổi khủng hoảng khu vực đồng euro, tầm quan trọng của nước Đức và bà Angela Merkel càng được khẳng định. Thế nhưng, nước Đức không toàn vẹn như người ta tưởng. Courrier International dẫn lại bài của tờ Frankfurter Rundschau tại Frankfurt với dòng tựa : « Những điểm yếu của Đức ».
Tờ báo liệt kê một số trường hợp tiêu biểu cho thấy sự yếu kém trong quản lý của chính phủ Đức trên hồ sơ kinh tế, kỹ thuật hay đạo đức, như tập đoàn Thyssen bị thua lỗ đến nhiều tỷ euro mà nguyên nhân lại chính là do quản lý yếu kém và tham nhũng. Tổng công ty đường sắt quốc gia Đức cũng vừa bị phanh phui việc cố tình khai gian chi phí công trình. Ngay cả Ngân hàng Trung ương Đức cũng dính đến nhiều vụ kiện tụng về lạm dụng tín nhiệm, trốn thuế, rửa tiền, điều khiển lãi suất liên ngân hàng… Mới tháng 12 rồi, cựu lãnh đạo của ngân hàng này đã bị phạt nhiều tỷ euro.
Tờ báo mỉa mai, những vụ việc trên lại xảy đến đúng vào lúc mà bà thủ tướng Đức đang « rao bán » khắp thế giới mô hình phát triển của Đức, lúc mà bà Merkel không ngần ngại chỉ trích tình trạng quản lí yếu kém và vấn nạn tham nhũng của một số nước châu Âu khác.



Copy từ: RFI

 

Hai tử huyệt của chế độ


Blog Hoàng Xuân Phú

Hai tử huyệt của chế độ

Hoàng Xuân Phú1
Có lẽ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) quan niệm rằng
-       quy định về quyền lãnh đạo của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội, và
-       quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý
tại Điều 4 và Điều 17–18 của Hiến pháp 1992 là hai tử huyệt của chế độ. Vì vậy, dư luận càng muốn hủy bỏ hoặc sửa đổi hai quy định đó, thì họ càng kiên quyết bảo lưu. Chúng nằm trong định hướng bất di, bất dịch của lãnh đạo đảng, và được tái thể hiện tại Điều 4 và Điều 57 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.

Tử huyệt độc quyền lãnh đạo
Trong thế giới văn minh, quyền lãnh đạo đất nước của một đảng chính trị chỉ có thể giành được thông qua tranh đấu và bầu cử dân chủ. Kể cả khi đang cầm quyền, đảng vẫn phải phấn đấu liên tục, để thuyết phục Nhân dân tin tưởng và tiếp tục trao cho quyền lãnh đạo.
Không thể lấy công lao trong một giai đoạn quá khứ để bù lại cho hiện tại yếu kém, với bao sai lầm, tội lỗi, và áp đặt cho cả tương lai vô định. Nếu cứ từng có công là được cầm quyền vĩnh viễn, thì ĐCSVN phải trả lại chính quyền cho triều đình nhà Nguyễn, và triều đình nhà Nguyễn lại phải trả lại chính quyền cho các triều đình trước đó. Thế là khởi động cho một quá trình truy hồi dằng dặc, mà không thể tìm được điểm kết thúc. Hơn nữa, thời gian qua đi, giờ đây nắm quyền lực bao trùm đất nước lại là những người vốn chỉ đi theo hoặc ăn theo cách mạng, hay từng được cách mạng o bế và cưu mang mà thôi. Nếu họ từng có công, thì chưa chắc bù nổi những lỗi lầm đã gây ra. Phần lớn những người có công đáng kể, những công thần của chế độ, đã qua đời, hoặc nếu còn sống thì đã về hưu, và có lẽ đang đau lòng vì phải chứng kiến sự nghiệp cách mạng của thế hệ mình bị phản  bội.

Không thể coi quyền lãnh đạo đất nước của bất kỳ đảng phái nào là đương nhiên, và vì vậy không thể ghi điều đó vào Hiến pháp. Vả lại, nếu quyền đó đã là đương nhiên, được mọi người mặc nhiên thừa nhận, thì cũng chẳng cần ghi vào Hiến pháp làm gì, để khỏi gây phản cảm một cách không cần thiết. Nếu một điều không phải là đương nhiên và không được tất cả mọi người thừa nhận, mà vẫn bất chấp, áp đặt bằng được trong Hiến pháp, thì chỉ riêng việc làm đó đã khắc họa xong tính dân chủ và tính hợp pháp của đảng và chế độ.
Nếu ĐCSVN được đa số Nhân dân tin cậy và ủng hộ, thì bất cứ cuộc tổng tuyển cử dân chủ nào cũng đưa lại một kết quả tất yếu, đó là trao cho đảng quyền lãnh đạo đất nước. Cho nên, khi khẳng định rằng “bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”, thì có nghĩa đã mặc nhiên thừa nhận thực trạng tệ hại của đảng, khiến đa số Nhân dân không thể đồng tình ủng hộ và chắc chắn sẽ không bầu cho đảng. Nếu nghĩ là mình không còn xứng đáng, không còn được đa số Nhân dân tín nhiệm, mà vẫn dùng Hiến pháp để áp đặt bằng được vai trò lãnh đạo, thì có còn tử tế và vì Dân nữa hay không?
Con người muốn tồn tại và phát triển thì không thể khước từ thử thách, không thể lẩn tránh đối đầu. Ngược lại, phải chấp nhận thử thách, vượt qua thử thách mà vươn lên. Nếu một đứa trẻ luôn được o bế trong căn nhà vừa được vô trùng, vừa được điều hòa nhiệt độ một cách tuyệt đối, thì sẽ dễ bị đổ bệnh khi ra khỏi cửa. Nếu con cái được bố mẹ quá bao cấp, kèm cặp từng li từng tí, thì sẽ dễ ngã gục khi bước vào cuộc sống tự lập trong xã hội. Để tránh bệnh tật, hàng tỷ người trên thế giới chấp nhận tiêm vắc-xin, nhằm phát triển khả năng miễn dịch, tức là chủ động đưa cơ thể mình vào trạng thái thử thách. Muốn khỏe, con người không thể ỳ ra, mà phải thường xuyên khổ luyện dưới hình thức thể dục. Không có cạnh tranh, không có thi đua (thực chất), thì con người không thể khá lên được.
Không chỉ từng cá thể, mà cả quần thể, với tư cách tổ chức, đảng phái, hay cả xã hội, cũng phải biết đương đầu với thử thách. Vì biết tận dụng cuộc cạnh tranh giữa hai hệ thống chính trị trên thế giới để tự hoàn thiện, để giành phần thắng trong cuộc chiến tranh lạnh, nên các nước tư bản hàng đầu đã phát triển vượt bậc, không chỉ về kinh tế, khoa học và công nghệ, mà cả về dân chủ và phúc lợi xã hội, cũng như về quyền con người.
Ngược lại, các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đã xử lý sai tình huống và quan hệ địch ta. Nhìn đâu cũng thấy địch, kể cả trong Dân, nên nhiều khi đối xử với Dân cũng giống như với địch, khiến dần dần mất Dân. Ỷ thế vào cường quyền, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đầu têu trong việc cấm đảng phái khác hoạt động, để rồi sau này ĐCSVN cũng nối gót sai lầm. Các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa chấp nhận đa đảng, nhưng cũng chỉ là hình thức. Dân chủ xã hội và quyền con người bị bóp nghẹt, khiến tinh thần và trí tuệ cũng bị lụi tàn. Tưởng rằng như vậy thì các đảng cộng sản sẽ rảnh tay, có thể tập trung lực lượng chiến đấu với kẻ thù chính ở hệ thống bên kia, nhưng kết quả thì ngược lại. Kinh tế suy sụp, lòng Dân ly tán, khiến hệ thống chính trị được dày công xây dựng suốt hơn nửa thế kỷ bị phá từ trong phá ra, đổ rụp trong chốc lát, làm cho đối thủ cũng bị bất ngờ đến ngỡ ngàng.
Họa đôi khi cũng là phúc, nếu biết rút ra bài học hợp lý từ thảm họa. Nếu quay ra chấp nhận cạnh tranh một cách dân chủ trong xã hội đa đảng, đa nguyên, ĐCSVN sẽ buộc phải lựa chọn những người lãnh đạo thuộc loại ưu tú nhất, và chắc chắn sẽ chọn được hàng ngũ lãnh đạo tốt hơn gấp bội lần so với đội hình đương nhiệm, kể cả tài lẫn đức. Mọi phần tử thoái hóa, tham nhũng sẽ bị vạch trần và bị đào thải. Trong ba triệu đảng viên không thiếu người tài, người tốt. Vấn đề là phải dùng dân chủ để giải phóng tiềm năng bị độc quyền giam hãm bấy lâu. Không chỉ dựa vào nội lực, dân chủ xã hội còn cho đảng thêm cả sức mạnh từ ngoài đảng. Nếu đảng cầm quyền không tự nhận ra tồn tại yếu kém của mình, thì các đảng đối lập cũng sẽ vạch ra cho. Chẳng cần đến những nghị quyết vô dụng, những màn kịch phê bình – tự phê bình giả dối và lố bịch, thì ĐCSVN vẫn có thể vươn lên, tốt hơn hẳn hiện tại, để được Nhân dân tin tưởng mà trao quyền lãnh đạo.
Tiếc rằng, lãnh đạo của ĐCSVN lại phản ứng như gã tài xế ù lì, chỉ biết nghiến răng tăng ga, khi cỗ xe đang lao xuống đầm lầy. Một mặt, đảng càng suy sụp thì họ càng bóp nghẹt dân chủ trong đảng, dân chủ trong xã hội, và càng hạn chế quyền con người, nhằm duy trì quyền lực bằng bạo lực. Mặt khác, giới cầm quyền tranh thủ tham nhũng, đua nhau vơ vét, tước đoạt cả tài sản của Dân. Chính họ, chứ không phải thế lực thù địch nào khác, đã và đang phá nát ĐCSVN. Trạng thái độc đảng đã triệt tiêu sức chiến đấu và bản năng sống lành mạnh của đảng. Buông thả trong thế độc quyền, ĐCSVN đang tự tha hóa, tự hủy diệt, như cỗ xe không phanh, lao xuống dốc, hướng thẳng tới vực thẳm.
Có ý kiến đề xuất tăng cường dân chủ trong nội bộ đảng để bù lại, để tự gột rửa và điều trị căn bệnh ung thư đã bước sang giai đoạn di căn. Nhưng không thể tồn tại dân chủ trong một đảng độc quyền. Chỉ có dân chủ ngoài xã hội mới thúc đẩy dân chủ trong đảng, chứ không phải ngược lại.
Khước từ dân chủ xã hội, trong đó có thể chế đa đảng, ĐCSVN không chỉ gây thêm thù oán với Dân, mà còn tự tước bỏ khả năng đề kháng và hy vọng chữa trị căn bệnh nan y của chính mình. Sự bảo thủ kiêu ngạo đã bịt mắt giới lãnh đạo, khiến họ cố tình làm ngơ trước thực tế là: Đảng Nhân dân Camphuchia, một đảng từng được ĐCSVN nâng đỡ và phải đương đầu với hoàn cảnh khó khăn gấp bội, vẫn có thể giữ được quyền lãnh đạo đất nước thông qua bầu cử, mà không cần phải bức hại đa nguyên, không cần phải cưỡng bức Hiến pháp.
Cần phải nói thêm rằng: Quy định ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không có nghĩa nó là lực lượng lãnh đạo duy nhất, càng không phải là đảng duy nhất được phép tồn tại. Do đó, kể cả khi duy trì Điều 4 củaHiến pháp 1992, thì việc ngăn cấm các đảng phái chính trị khác thành lập và hoạt động là vi phạm quyền tự do hội họp, lập hội, được quy định tại Điều 69, Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tử huyệt sở hữu toàn dân về đất đai
Hiến pháp 1946 không đề cập đến đất đai. Hiến pháp 1960 chỉ quy định đất hoang thuộc sở hữu của toàn dân. NhưngHiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 thì quy định (toàn bộ) đất đai thuộc sở hữu toàn dân.
“Sở hữu toàn dân” lại có nghĩa là chẳng người dân nào có quyền sở hữu. Trớ trêu thay, nhân danh “sở hữu toàn dân” để tước đi quyền sở hữu của toàn dân. Những mảnh đất vốn dĩ có chủ, được khai hoang, được trao đổi, mua bán, hay được thừa kế hợp pháp từ bao đời, nay bỗng nhiên trở thành vô chủ. Bộ máy cầm quyền, vốn dĩ chẳng có gì, mà nay lại chiếm được tất cả, trong đó có quyền quyết định về đất đai trong cả nước.
Để vận động hàng chục triệu nông dân giúp đỡ cướp chính quyền, ĐCSVN đã giương khẩu hiệu “dân cày có ruộng”. Chữ“có ruộng” ở đây đương nhiên là “sở hữu ruộng đất”, chứ không phải chỉ là “có quyền sử dụng đất”. Sau khi giành được chính quyền ở miền Bắc, đảng đã lấy ruộng của người giàu chia cho người nghèo, rồi tiếp đó lại vận động nông dân góp ruộng để làm ăn tập thể, trong mô hình hợp tác xã nông nghiệp. Khi đã giành được chính quyền trong cả nước, lãnh đạo ĐCSVN quyết định quốc hữu hóa đất đai, dưới hình thức “sở hữu toàn dân”Nếu biết trước kết cục sẽ mất đất như vậy, liệu hàng triệu người có còn theo đảng, giúp đảng giành chính quyền nữa hay không?
Khi chính quyền tử tế, có khả năng sử dụng đất đai một cách vô tư, hợp lý và công bằng, thì sở hữu toàn dân về đất đai có thể tạo ra một sức mạnh cộng hưởng để xây dựng đất nước. Và người dân có thể tự an ủi rằng mình hy sinh bớt lợi ích cá nhân để phục vụ lợi ích cộng đồng, trong đó có cả bản thân và gia đình mình. Nhưng khi chính quyền tham nhũng thì sở hữu toàn dân về đất đai gây ra đại họa, không chỉ làm khổ muôn dân, mà phá nát cả chính quyền.Chỉ mất mấy giây hạ bút, kẻ mang danh “công bộc” đã có thể vơ về cả đống tiền của, mà một người lao động chân chính lăn lộn cả đời cũng không kiếm nổi. Chỉ với mấy chữ ký loằng ngoằng của mấy kẻ có chức quyền, hàng trăm, hàng ngàn người dân đã bị tước mất đất đai, nơi họ đang làm ăn, sinh sống, trở thành dân oan, lang thang khiếu kiện khắp nơi. Càng duy trì sở hữu toàn dân về đất đai, thì càng gia tăng oán hận của Dân, càng sinh sôi tham nhũng trong tầng lớp lãnh đạo, và càng đẩy nhanh quá trình tự hủy diệt của chế độ.
Bộ máy cầm quyền đầy ắp những kẻ tha hóa, cấu kết với bao kẻ vốn đã lưu manh từ trước khi chen chân vào chốn quan trường. Cái thứ “sở hữu toàn dân” ngon lành và dễ ăn như thế, làm sao kìm nổi lòng tham? Có thể những người đã no nê cũng tán thành tư nhân hóa đất đai, vừa giũ bỏ được cái nguồn kiếm chác béo bở đã trở thành “của nợ”, vừa có được quyền sở hữu vĩnh viễn cho số đất đai đã thu gom bấy lâu. Nhưng những vị còn chưa thấy đủ no và những kẻ kế cận đang mong chờ đến lượt mình được vơ vét thì lại không dễ buông tha.
Muốn nuốt thì hóc, mà muốn nhả ra cũng không hề dễ. Tư nhân hóa đất đai thế nào? Trao quyền sở hữu cho ai và trao bao nhiêu? Khi còn là sở hữu toàn dân thì chủ đất cũ đành chịu lặng thinh. Nhưng khi mảnh đất vốn của mình lại được giao cho một người lạ hoắc sở hữu, thì chủ cũ đâu dễ chịu ngồi im. Đất đai vốn dĩ nằm trong trạng thái phân bổ tương đối ổn định và hợp lý về mặt lịch sử, mấy chục năm qua bị đẩy vào tình trạng hỗn loạn. Nếu bây giờ muốn sửa chữa sai lầm, lập lại trật tự, thì lại quá khó. Hoàn cảnh thực tại giống như gã phàm ăn nuốt phải lưỡi câu: Nuốt tiếp thì vướng cước và có thể bị chọc thủng dạ dày, mà lôi ra thì móc vào cổ họng.
Thách thức vượt quá năng lực tư duy và hành động của những đầu óc u mê, trí tuệ giáo điều. Biết làm gì ngoài việc câu giờ, dồn hậu họa lên đầu những người kế nhiệm?
Quả là rất khó để thoát ra khỏi tình trạng sa lầy về sở hữu đất đai. Sai lầm càng lớn thì khắc phục càng khó. Songlãnh đạo ĐCSVN cần xác định rằng họ có trách nhiệm giải thoát Dân tộc ra khỏi bãi lầy, mà chính đảng đã đẩy Dân tộc xuống. Nếu biết huy động trí tuệ của Dân tộc và tạo được sự đồng thuận của Nhân dân, thì khó mấy cũng làm được. Cách làm như thế nào không phải là chủ đề trao đổi của bài này. 
*
*      *
Quy định trong Hiến pháp về quyền lãnh đạo đương nhiên của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội tưởng để đảng trường tồn, nhưng lại là điều khoản khai tử của ĐCSVN, khai tử khỏi lòng Dân và khai tử khỏi cuộc sống chính trị.
Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý như cỗ máy khổng lồ, từng phút từng giờ đùn ra hàng đống thuốc nổ, nén chặt vào lòng Dân. Nó giống loại ma túy cực độc, có thể thỏa mãn cơn nghiện tham lam vô biên của giới cầm quyền, nhưng cũng tăng tốc quá trình tự hủy diệt của ĐCSVN và chế độ do đảng dựng nên.
Vì vậy, nếu muốn bảo vệ ĐCSVN và chế độ này, thì cần phải nhanh chóng loại bỏ hai quy định đó ra khỏi Hiến pháp.
Ngược lại, nếu muốn gạt bỏ sự lãnh đạo của ĐCSVN, thì có thể sẽ sớm được toại nguyện, nếu tiếp tục duy trì hai quy định ấy trong Hiến pháp, bởi lẽ không có cách phá nào nhanh hơn là tự phá.
H.X.P.
Hà Nội, 11/01/2013
Nguồn: Blog Hoàng Xuân Phú
Cùng tác giả:
-       Viễn tưởng từ chức
-       Bài học tồn vong từ thảm họa
-       Nhận thức mới: Lấy là bỏ, bỏ là lấy
-       Lực cản Nhà nước pháp quyền
-       Trải bốn nghìn năm còn chậm lớn
-       Chiến binh cầm bút
-       Hãy để lương tâm lên tiếng một lần!
-       Một số khía cạnh hình sự của vụ án Tiên Lãng – Hải Phòng
-       Nhân vụ Tiên Lãng bàn về công vụ
-       Quyền biểu tình của công dân

Copy từ: Anh Ba Sàm

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI KÝ TÊN KÊU GỌI THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI (TỪ ĐỢT 1 ĐẾN ĐỢT 15)


DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI KÝ TÊN KÊU GỌI THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI (TỪ ĐỢT 1 ĐẾN ĐỢT 15)

Để ký tên vào Lời kêu gọi này, xin đồng bào trong và ngoài nước gửi e-mail về địa chỉ loikeugoi2012@gmail.com, ghi rõ họ tên, nghề nghiệp, chức danh (nếu có) và địa chỉ.
Danh sách dưới đây đã được rà soát để loại bỏ trùng tên.
Bauxite Việt Nam
TỪ ĐỢT 1 ĐẾN ĐỢT 12
ĐỢT 13:
  1. Trần Nam Việt, TP HCM
  2. Kiều Quốc Thư, giáo viên, Hà Nội
  3. Đoàn Trần Đức, bác sĩ, Pháp
  4. Tran Van Loc, kỹ sư, Australia
  5. Nguyễn Xuân Đàm, cán bộ hưu trí, Hà Nội
  6. Bùi Thị Vĩnh, cán bộ hưu trí, Hà Nội
  7. Nguyễn Quốc Thản, kỹ sư, Nhật Bản
  8. Mai Xuân Ninh, nhân viên văn phòng, TP HCM
  9. Nguyễn Tuệ Hải, hưu trí, Australia
  10. Đàm Hà Khánh, kiến trúc sư, Gò Vấp, TP HCM
  11. Đỗ Thị Bắc Giang, kế toán đã về hưu, TP HCM
  12. Hoàng Thị Bình, cán bộ hưu trí, Hà Nội
  13. Lê Thị Xuân Mai, cử nhân ngoại ngữ (Anh và Hoa), TP HCM
  14. Nguyễn An Vinh, cử nhân kinh tế, kinh doanh, Đồng Nai
  15. Nguyễn Thanh Hải, kỹ sư, Quảng Ninh
  16. Nguyên Khanh, nhân viên văn phòng, Đà Nẵng
  17. Vũ Đình Bon, TS, kỹ sư, Hoa Kỳ
  18. Nguyễn An Liên, công nhân, Đà Nẵng
  19. Trần Thị Vân Mai, thông dịch viên, Hoa Kỳ
  20. Phạm Văn Quyết, kinh doanh, Hà Nội
  21. Nguyễn Văn Bình, sinh viên, Nam Định
  22. Ngô Cao Cường, sinh viên, Nam Định
  23. Hoàng Quỳnh, kinh doanh, Hà Nội
  24. Nguyễn Duy Từ, Hà Nội
  25. Hồ Thị Vinh, Đống Đa, Hà Nội
  26. Trần Hồng Nhung, sinh viên, HàNam
  27. Đặng Thị Liên, sinh viên, HàNam
  28. Trịnh Thị Tuyết,NamĐịnh
  29. Hà Thị Luyến, giáo viên, Hà Nội
  30. Trần Thị Hà, Hà Nội
  31. Lê Quang Nghị, ngân hàng, Hà Nội
  32. Nguyễn Xuân Hòa, kế toán, Phú Thọ
  33. Trần Diệu Linh, học sinh, Hà Nội
  34. Thu Giang, học sinh, Hà Nội
  35. Nguyễn Thị Tươi, sinh viên, Hà Nội
  36. Vũ Thị Thục, sinh viên, Hà Nội
  37. Nguyễn Văn Thắng, sinh viên, Hà Nội
  38. Maria Đoàn Thị Mơ, Hà Nội
  39. Maria Vũ Thị Phượng, Hà Nội
  40. Thomaso Vũ Kim Tuyến, sinh viên, Hà Nội
  41. Trần Văn Hiệp, Hà Nội
  42. Lê Thị Hợi, Hà Nội
  43. Phạm Thị Hiền, sinh viên, Hà Nội
  44. Trần Văn Phức, Thái Bình
  45. Trần Thị Vĩ, Thái Bình
  46. Nguyễn Thị Thúy, lao động tự do, Hà Nội
  47. Phạm Tòng, hưu trí, Thanh Hóa
  48. Phạm Thị Suy, nông dân,NamĐịnh
  49. Vũ Thị Hương, sinh viên, Hà Nội
  50. Nguyễn Trung Kiên, kế toán, Thanh Xuân, Hà Nội
  51. Nguyễn Thị Chanh, sinh viên,NamĐịnh
  52. Nguyễn Văn Tuấn, sinh viên, Nghệ An
  53. Nguyễn Thị Hoa, kế toán, Nghệ An
  54. Nguyễn Thu Hiền, sinh viên, Hà Nội
  55. Trần Xuân Quảng, thợ xây, Thái Bình
  56. Đào ThịThu,NamĐịnh
  57. Trịnh Quang Đại,NamĐịnh
  58. Bùi Thu Hoài, học sinh, Hà Nội
  59. Trần Ánh, sinh viên, Hà Nội
  60. Maria Lưu Lan Phương, Hà Nội
  61. Maria Nguyễn Thị Quý, Hà Nội
  62. Phaolô Vũ Công Thưởng,NamĐịnh
  63. Maria Nguyễn Thị Thảo, nhân viên văn phòng, Bắc Ninh
  64. Anna Trần Thị Huyền, nhân viên văn phòng,NamĐịnh
  65. Maria Phạm Thị Duyên, sinh viên, Thái Bình
  66. Maria Phạm Thị Yến, sinh viên,NamĐịnh
  67. Maria Đỗ Thùy Linh, sinh viên,NamĐịnh
  68. Vinh Sơn Vương Văn Huy, Hà Nội
  69. Maria Phạm Thị Dung, Hà Nội
  70. Her Nguyễn Văn Tính, Thái Bình
  71. Đinh VănNhất,NamĐịnh
  72. Phan Anh Pháp, kinh doanh,NamĐịnh
  73. Katarina Đặng Thị Nhiên, Thái Nguyên
  74. Maria Cao Thị Nhài, sinh viên, Ninh Bình
  75. Maria Đặng Thị Duyên, nghỉ hưu, Hà Tĩnh
  76. Giuse Lê Hồng Phong, sinh viên, Hà Nội
  77. Phêrô Lê Hồng Phúc, công nhân Hà Nội
  78. Trần Thanh Hải, Hà Nội
  79. Nguyễn Thanh Lộc, kỹ sư, Hà Nội
  80. Lương Quy Trung, sinh viên, Hà Nội
  81. Đỗ Thị Khánh Ly, sinh viên, Hà Nội
  82. Dương Thị Kiều Trinh, giảng viên, Hà Nội
  83. Nguyễn Thị Hường, sinh viên, Thái Nguyên
  84. Nguyễn Văn Tùng, sinh viên, Thái Nguyên
  85. Nguyễn Thị Nhiệm, sinh viên, Thái Nguyên
  86. Phạm Văn Nghĩa, sinh viên,NamĐịnh
  87. Đỗ Văn Phi, kinh doanh, Hà Nội
  88. Thiệu Thị Hồng Thúy, sinh viên, Hà Nội
  89. Ngô Thị Tuyết, sinh viên,NamĐịnh
  90. Nguyễn Thị Xuân Vui, sinh viên,NamĐịnh
  91. Trần Văn Xuân, lái xe, Thái Bình
  92. Phạm Ngọc Hoài, Ninh Bình
  93. Nguyễn Văn Hà, học sinh, HàNam
  94. Đặng Ngọc Tĩnh, Nam Định
  95. Nguyễn Văn Hưng, Nam Định
  96. Nguyễn An Ly, marketing, Hà Nội
  97. Nguyễn Vân Anh, giám đốc, Hà Nội
  98. Đỗ ThếNam, công nhân, Hà Nội
  99. Vũ Văn Sơn, sinh viên,NamĐịnh
  100. Nguyễn Thị Xoan, nhân viên, Bắc Ninh
  101. Phạm Thị Hằng, sinh viên,NamĐịnh
  102. Ngô Thị Hài, sinh viên,NamĐịnh
  103. Phạm Thị Hạnh, nhân viên, Hà Nội
  104. Trần Thị Hòa, nội trợ, Hà Nội
  105. Nguyễn Vân Anh, kế toán, Hà Nội
  106. Nguyễn Thị Mai, sinh viên, Nghệ An
  107. Phạm Cao Thắng, quản lý, Hà Nội
  108. Nguyễn Thị Hương, nhân viên, Hà Nội
  109. Nguyễn Thị Trang, sinh viên, Hà Nội
  110. Nguyễn Thị Hợi, nhân viên, Hà Nội
  111. Bùi Đức Thắng, nhân viên, Nghệ An
  112. Lê Thị Hảo Yến, sinh viên, Tuyên Quang
  113. ĐinhCông Nguyên,NamĐịnh
  114. Nguyễn Văn Sâm, sinh viên, Nghệ An
  115. Đào Thị Xuân, nội trợ, Hà Nội
  116. Ngô Văn Vương, Hà Nội
  117. Nguyễn Thị Giang, sinh viên, Ninh Bình
  118. Phan Thị Tuyết, hưu trí, Hà Nội
  119. Nguyễn Thị Yến, buôn bán, Hà Nội
  120. Vương Thị Niên, hưu trí, Hà Nội
  121. Nguyễn Thị Lệ, sinh viên, Bắc Giang
  122. Ngô Bích Hồng, sinh viên, Hà Nội
  123. ĐinhThị Hoa,NamĐịnh
  124. Nguyễn Thị Huệ, Hà Nội
  125. Trần Kim Lan, nghỉ hưu, Hà Nội
  126. Nguyễn Hương Ly, học sinh, Hà Nội
  127. Trần Thị Lá,NamĐịnh
  128. Đào Văn Triều, học sinh,NamĐịnh
  129. Ngô Ký Tài, Họa sĩ,NamĐịnh
  130. Lại Minh Quang Phú, sinh viên, Ninh Bình
  131. Nguyễn Văn Tam,NamĐịnh
  132. Nguyễn Văn Hùng,NamĐịnh
  133. Nguyễn Văn Luyện, nông dân, Thái Bình
  134. Vũ Văn Nghị, công nhân,NamĐịnh
  135. Nguyễn Xuân Hùng, sinh viên, Vĩnh Phúc
  136. Nguyễn Thanh Tú, họa sĩ, Hà Nội
  137. Phạm Thị Kim Hiên, sinh viên, Hà Nội
  138. Nguyễn Thị Nguyệt, nông dân,NamĐịnh
  139. Đoàn Thị Mơ, Hà Nội
  140. Nguyễn Thị Mỹ, nông dân, Hà Nội
  141. Đỗ Thị Mười, Hà Nội
  142. Mai Thị Phương, sinh viên, Hà Nội
  143. Trần Như Hòa, Hà Nội
  144. Nguyễn Thị Hiền, kế toán, Hà Nội
  145. Nguyễn Anh, Hà Nội
  146. Nguyễn Hoa, sinh viên, Hà Nội
  147. Ninh Hồng, Hà Nội
  148. Nguyễn Thị Diệp, sinh viên, Hà Nội
  149. Nguyễn Thị Vân Anh, học sinh, Hà Nội
  150. Đặng Xuân Lâm, học sinh, Hà Nội
  151. Hoàng Thu Huyền, kế toán, Hà Nội
  152. Trần Thị Ngọc Anh, học sinh, Hà Nội
  153. Trần Thị Lan, sinh viên, Hà Nội
  154. Dương Quỳnh Nga, học sinh, Hà Nội
  155. Nguyễn Văn Hòa, Hà Nội
  156. Nguyễn Văn Đoan, kinh doanh, Hà Nội
  157. Nguyễn Văn Theo, kỹ sư, Hà Nội
  158. Trần Đại Dương, kỹ sư, Hà Nội
  159. Ngô Quang Biên, kỹ sư, Hà Nội
  160. Phạm Văn Chanh, kỹ sư,NamĐịnh
  161. Nguyễn Thị Thu Hà, kế toán, HàNam
  162. Phan Thị Thúy, sinh viên, Hà Nội
  163. Lê Thị Phương, sinh viên, Thanh Hóa
  164. Cao T Anh, Thanh Hóa
  165. Phan Thi Huyền, sinh viên, Ninh Bình
  166. Nguyễn Văn Phúc, Hà Nội
  167. Nguyễn Hồng Anh, sinh viên,NamĐịnh
  168. Bùi Thị Thanh, nông dân, Hà Tây
  169. Hồ Thị Tuyết, nông dân, Hà Nội
  170. Hoàng T Xuân Lộc, sinh viên, Hà Nội
  171. Nguyễn Mạnh Quyết, kinh doanh, Thanh Hóa
  172. Phạm Thu Trang, sinh viên, Hà Nội
  173. Nguyễn Văn Sang, lao động tự do, Phú Thọ
  174. Trần Quốc Khánh, sinh viên, Hà Nội
  175. Đinh Thị Oanh, giáo viên,NamĐịnh
  176. Nguyễn Thị Thùy, sinh viên, Hà Nội
  177. Đinh Thị Hồng, sinh viên, Thái Bình
  178. Vũ Thị Kim Dung, sinh viên,NamĐịnh
  179. Nguyễn Thị Kim Xuân, nội trợ, Hà Nội
  180. Bùi Thị Thanh Hương, sinh viên,NamĐịnh
  181. Nguyễn Thị Thu Hiền, sinh viên, Hà Nội
  182. Nguyễn Thị Phương Hoa, sinh viên, Hưng Yên
  183. Vũ Tất Thành,NamĐịnh
  184. Trần Thị Ngọc, kế toán,NamĐịnh
  185. Nguyễn Thị Hằng, sinh viên, Vinh
  186. Bùi V Nhuận, nông dân,NamĐịnh
  187. Nguyễn Phương Liên, sinh viên, Thanh Hóa
  188. Nguyễn Thị Soi, sinh viên,NamĐịnh
  189. Lê Thị Thúy, nội trợ, Hà Nội
  190. Hoàng Văn Vĩnh, giáo viên, Hà Nội
  191. Nguyễn Văn Chiến, bảo vệ, Hà Nội
  192. Trần Thanh Đạt, Nam Định
  193. Hoàng Mạnh Hùng, Hà Nội
  194. Phạm Văn Hiển, sinh viên, Hà Nội
  195. Trần Đức Thiên, giám đốc, Hà Nội
  196. Lê Quốc Hưng, Phát Diệm
  197. Đỗ Thị Chiên, Phú Lương
  198. Nguyễn T Quỳnh Trang, sinh viên, Nam Định
  199. Nguyễn Văn Nghĩa, sinh viên, Nam Định
  200. Nguyễn Tiến Thành, đạo diễn, Hà Nội
  201. Đinh Văn Đương, Nam Định
  202. Nguyễn Thị Vin, sinh viên, Thái Bình
  203. Trần Quốc Pháp, kỹ sư, Hà Tĩnh
  204. Nguyễn Văn Kiểm, Thái Bình
  205. Nguyễn Hồng Ân, Cần Thơ
  206. Hồ Thị Huyến, Hà Nội
  207. Nguyễn Ngọc Bảo, lái xe, Vĩnh Phúc
  208. Nguyễn Thị Kim Nguyệt, nội trợ, Hà Nội
  209. Đoàn Huy Hoàng, nhân viên, Nam Định
  210. Vũ Thị La, sinh viên, Nam Định
  211. Lương Thị Hồng Liên, sinh viên, Phú Thọ
  212. Hoàng Văn Lân, sinh viên, Hà Nội
  213. Lưu Văn Trinh, sinh viên, Thái Bình
  214. Trịnh Thị Mai Ly, sinh viên, Nam Định
  215. Nguyễn Thị Trang, sinh viên, Nam Định
  216. Phạm Thị Trang, sinh viên, Hà Nam
  217. Phạm Văn Hoàng, Ninh Bình
  218. Trần Văn Mạnh, nhân viên, Hà Nam
  219. Phạm Thế Anh, Hà Nội
  220. Nguyễn Thị Duyên, sinh viên, Phú Thọ
  221. Nguyễn Văn Hào, xây dựng, Hà Nam
  222. Nguyễn Văn Bảng, xây dựng, Thái Bình
  223. Nguyễn Văn Đoàn, kinh doanh, Thanh Hóa
  224. Nguyễn Thị Trang, Hà Nội
  225. Trần Văn Duy, kinh doanh, Hà Nam
  226. Trần Q Thuần, kinh doanh, Hà Nội
  227. Trần Văn Huy, sinh viên, Hà Nội
  228. Nguyễn Thị Hương, sinh viên, Hà Nội
  229. Nguyễn Văn Chiến, kỹ sư, Nam Định
  230. Trần Quỳnh Anh, sinh viên, Hà Nội
  231. Đặng T Quỳnh, Hà Nội
  232. Trương Hữu Chính, Hà Nội
  233. Chu Thị Thảo Sương, sinh viên, Hà Nội
  234. Nguyễn Thị Nguyệt, sinh viên, Hà Nội
  235. Nguyễn Thị Là, giáo viên, Hà Nội
  236. Đỗ Thị Vân, sinh viên, Nam Định
  237. Vũ Văn Yến, họa sĩ, Hà Nội
  238. Trần Thị Thương, sinh viên, Hà Nội
  239. Cao Thị Vân Anh, sinh viên, Hà Nội
  240. Trần Văn Hoán, công nhân, Thái Bình
  241. Nguyễn Thị Phúc, công dân, Hà Nội
  242. Tạ Thị Hằng, sinh viên, Hà Nam
  243. Hà Văn Lực, Nghệ An
  244. Nguyễn Văn Hà, lao động tự do, Nam Định
  245. Phạm Văn Thế, sinh viên, Thái Bình
  246. Phạm Gia Tuyên, Thái Bình
  247. Phạm Văn Chinh, sinh viên, Nam Định
  248. Đào Thị Thủy, sinh viên, Vĩnh Phúc
  249. Nguyễn Thị Kiều, sinh viên, Vĩnh Phúc
  250. Lưu Thị Ngọc Ánh, kế toán, Hà Tĩnh
  251. Vũ Quang Huy, kinh doanh thuốc, Hà Nội
  252. Trần Văn Nghiêm, nông dân, Hải Phòng
  253. Trần Văn Hướng, nông dân, Nghệ An
  254. Nguyễn Huy Long, học sinh, Hà Nội
  255. Vũ Linh Nhi, học sinh, Hà Nội
  256. Phạm Thị Liên, nghỉ hưu, Hà Nội
  257. Lương Hương Giang, sinh viên, Nam Định
  258. Tạ Ánh Dương, học sinh, Hà Nội
  259. Đỗ Hữu Hoành, công nhân, Hà Nội
  260. Nguyễn Xuân Ruyện, công nhân, Nam Định
  261. Phùng Văn Diễn, công nhân, Thanh Hóa
  262. Nguyễn Ngọc Cư, công nhân, Nam Định
  263. Tạ Văn Tuấn, bán hàng, Hà Nam
  264. Tran Thi Hong, tiến sĩ, Hà Nội
  265. Lưu Hà Sĩ Tâm, kỹ sư nông nghiệp, kinh doanh trang trại, Thái Bình
  266. Nguyễn Tấn Nguyễn, lĩnh vực du học (bộ phận dịch thuật), TP HCM
  267. Vũ Đức Khanh, luật sư, Canada
  268. Lương Quang Đức, công nhân cơ khí, TP HCM
  269. Võ Văn Phú, kỹ sư, Hoa Kỳ
  270. Hoàng Thị Ngọc, kiến trúc sư, Hà Nội
  271. Nguyễn Đức Nhuận, nhà xã hội học kinh tế (socio économiste), nguyên Giám đốc Trung Tâm Phát triển SEDET; CNRS/Université Paris 7, Pháp
  272. Tạ Đắc Thường, lao động tự do, Hà Nội.

ĐỢT 14:
  1. Phạm Vĩnh Cư, PGS TS, nghiên cứu viên, đã nghỉ hưu
  2. Lê Thị Há, nội trợ, Hà Nội
  3. Cao Thị Nga, sinh viên, Hà Nội
  4. Phạm Thị Chăm, hưu trí, Hà Nội
  5. Lê Văn Khoa, công nhân, Bùi Chu
  6. Phạm Thị Minh, Hà Nội
  7. Trần Công Thùy, sinh viên, Hà Nội
  8. Phạm Thị Nga, công nhân, Thái Bình
  9. Đỗ T Kiều Hạnh, sinh viên, Hà Nội
  10. Kiều Việt Hương, nội trợ, Phú Thọ
  11. Nguyễn Văn Ân, công nhân, Hà Nội
  12. Trần T Thảo, nội trợ, Hà Nội
  13. Đinh Thị Hà, bán thuốc, Ninh Bình
  14. Nguyễn Thanh Hải, Hà Nội
  15. Nguyễn T Hồng Vân, bác sĩ, Nghệ An
  16. Đỗ Tiến Tùng, sinh viên, Hà Nam
  17. Lương Quý Toàn, xây dựng, Hà Nam
  18. Vũ Trọng Hải, sinh viên, Hải Phòng
  19. Nguyễn Văn Chỉ, lao động, Nam Định
  20. Vũ Thị Nên, lao động, Nam Định
  21. Nguyễn Thị Kiều Anh, học sinh, Hà Nội
  22. N Ngọc Mai Thảo, sinh viên, TP HCM
  23. N Thị Minh Trang, sinh viên, TP HCM
  24. Trần Thị Hoa, sinh viên, Hà Nam
  25. Đào Thị Thích, nội trợ, Hải Dương
  26. Trần Công Sơn, sinh viên, Hà Nội
  27. Trần Văn Trường, sinh viên, Nam Định
  28. Dương Kim Yến, kế toán, Hà Nội
  29. Phan Thị Nguyệt, lao động tự do, Hà Nội
  30. Lê Thành Mỹ, sinh viên, Hà Nội
  31. Trần Thị Hương, Hà Nội
  32. Hoàng Thị Thùy, lao động tự do, Yên Bái
  33. Đặng Thị Phương, sinh viên, Phú Thọ
  34. Trịnh Thị Hương, lao động tự do, Nam Định
  35. Trần Thị Ngân, buôn bán, Hà Nam
  36. Nguyễn Văn Luân, nông dân, Hà Nội
  37. Juse Phạm Quốc Huy, dược sĩ, Hà Nội
  38. Bùi Thị Vân Anh, sinh viên, Thanh Hóa
  39. Nguyễn Thanh Tuấn, sinh viên, Thanh Hóa
  40. Nguyễn Ngọc Nhâm, sinh viên, Nghệ An
  41. Phạm Thị Trang, sinh viên, Nghệ An
  42. Đoàn Thị Lan, sinh viên, Quảng Bình
  43. Trần Thị Nguyệt, sinh viên, Nghệ An
  44. Nguyễn Như Quỳnh, sinh viên, Nghệ An
  45. Lê Danh Thương, sinh viên, Hà Tĩnh
  46. Nguyễn Văn Thảo, sinh viên, Nghệ An
  47. Nguyễn Thị Mân, sinh viên, Hà Tĩnh
  48. Đoàn VănNam, sinh viên, Hà Tĩnh
  49. Phạm Thị Thanh Nga, sinh viên, Nghệ An
  50. Trần Thị Mỹ, sinh viên, Nghệ An
  51. Nguyễn Thị Cậy, sinh viên, Nghệ An
  52. Hoàng Thị Ngọc Mai, sinh viên, Nghệ An
  53. Phạm Thị Thế, sinh viên, Nghệ An
  54. Nguyễn Đức Quang, sinh viên, Nghệ An
  55. Phạm Thị Trường, sinh viên, Nghệ An
  56. Lê Thị Giang, sinh viên, Nghệ An
  57. Nguyễn Văn Nam, kinh doanh, Hưng Yên
  58. Phạm Lan Anh, Hà Nội
  59. Nguyễn Hoài Thu, Hà Nội
  60. Lê Ngọc Tuấn, kinh doanh, Hà Nội
  61. Lê Thị Phương, sinh viên,NamĐịnh
  62. Nguyễn Thị Phước, giáo viên, Bắc Giang
  63. Nguyễn Thị Thơm, sinh viên, Hà Tĩnh
  64. Nguyễn Thị Hương, sinh viên, Hà Tĩnh
  65. Nguyễn Văn Thông, hưu trí, Hà Nội
  66. Nguyễn Văn Sưu, Hưng Yên
  67. Hoàng Giang, sinh viên, Hà Nội
  68. Đặng Hữu Linh, sinh viên, Nghệ An
  69. Nguyễn Văn Quang, sinh viên, Thanh Hóa
  70. Nguyễn Hồng Hải, quân nhân, Hà Nội
  71. Nguyễn Văn Vinh, sinh viên,NamĐịnh
  72. Trần Khánh Linh, học sinh, Hà Nội
  73. Nguyễn Ngoc Duyên, sinh viên,NamĐịnh
  74. Vũ Văn Sanh, kỹ sư, Hà Nội
  75. Nguyễn Thị Hiên, Hà Nội
  76. Nguyễn Văn Duy,NamĐịnh
  77. Trần Quốc Huy, quân nhân, Hà Nội
  78. Nguyễn Thị Hằng, giáo viên, Hà Nội
  79. Nguyễn Anh Huy, lao động tự do, Hà Nội
  80. Nguyễn Thành Tuy, lao động tự do, Hà Nội
  81. Đỗ Xuân Điềm, sinh viên, Thái Bình
  82. Nguyễn Thị Lành, HàNam
  83. Nguyễn Văn Dân, sinh viên, Hà Nội
  84. Đặng VănThận,NamĐịnh
  85. Phêrô Trần Văn Chức, Thái Bình
  86. Maria Nguyễn Thị Huệ, lao động tự do, Hà Nội
  87. Phanxicô Vũ Duy Chiến, kinh doanh, Hà Nội
  88. Gioan Nguyễn Quang Hiếu, IT, Hà Nội
  89. Luxia Trần Thị Mỹ Dung, sinh viên, Hà Nội
  90. Giuse Đoàn Văn Thông, công nhân viên, Giáo xứ Bùi Chu
  91. Giuse Nguyễn Văn Dương, sinh viên, Hà Nội
  92. Anna Trần Thị Oanh, lao động tự do,NamĐịnh
  93. Nguyễn Thị Minh Huyền, công nhân, Hà Nội
  94. Nguyễn Sỹ Nhắng, nông dân, Hà Nội
  95. Phạm Đức Hào, nông dân, Hà Nội
  96. Nguyễn Thị Cúc, nông dân, Hà Nội
  97. Nguyễn Thị Hòa, nông dân, Hà Nội
  98. Nguyễn Phú Luân, nông dân, Hà Nội
  99. Lê Đình Thắng, hưu trí, Hà Nội
  100. Trương Thị Hường, công nhân, Bắc Ninh
  101. Vũ Thị Minh, công nhân, Bắc Ninh
  102. Nguyễn Văn Việt, công nhân, Hòa Bình
  103. Nguyễn Văn Sách, nông dân, Hà Nội
  104. Trần Thu Hiền, Hà Nội
  105. Hoàng Văn Thìn, sinh viên, Hà Nội
  106. Nguyễn Thị Hương, Hà Nội
  107. Phạm Thị Ly, Hà Nội
  108. Trần Tiên Luyến, lao động tự do,NamĐịnh
  109. Nguyễn Văn Thuấn, công nhân, Bắc Ninh
  110. Nguyễn Văn Thường, công nhân, Hà Nội
  111. Bùi Văn Trọng, công nhân, Hà Nội
  112. Nguyễn Thị Hải, nông dân, Hà Nội
  113. Nguyễn Thị Toan, hưu trí, Phú Thọ
  114. Đinh Thị Nhiệm, nông dân, Giáo xứ Yên Mỹ
  115. Trần Thị Tâm, nông dân, Giáo xứ Thống Nhất
  116. Dương Văn Lợi, xây dựng, Hà Nội
  117. Nguyễn Sỹ Hải, xây dựng, Hà Nội
  118. Nguyễn Thiên Tơ, lao động tụ do, Hà Nội
  119. Nguyễn Thiên Minh, Hà Nội
  120. Nguyễn Văn Chài, Hà Nội
  121. Trần Thị Hòa, Hà Nội
  122. Nguyễn Mạnh Tường, Hà Nội
  123. Nguyễn Văn Đặng, Hà Nội
  124. Đặng Thị Bình, Hà Nội
  125. Nguyễn Mạnh Doanh, Hà Nội
  126. Nguyễn Văn Hào, Hà Nội
  127. Bùi Văn Thách, Hà Nội
  128. Nguyễn Văn Trúc, Hà Nội
  129. Nguyễn Thị Nga, kinh doanh, Hà Nội
  130. Nguyễn Mạnh Lâm, lái xe, Hà Nội
  131. Nguyễn Quang Điện, Hà Nội
  132. Lê Phú Hải, Hà Nội
  133. Ngô Nhật Hưng, sinh viên, TP HCM
  134. Phạm Việt Dũng, nhạc sĩ, Pháp
  135. Lê Xuân Tâm, kỹ sư, Hà Giang
  136. Nguyễn Nam Cao, giáo viên, Hà Nội
  137. Dung Bui, công nhân, Hoa Kỳ
  138. Hoàng Thị Hà, hưu trí, Hà Nội
  139. Hoàng Thế Trung, kỹ sư, Gia Lai
  140. Nguyen Hien, linh mục, Phap
  141. Vi Nhân Nghĩa, kỹ sư, Quảng Ninh
  142. Nguyễn Quang Huy, kinh doanh, Hải phòng
  143. Nguyễn Quang Đặng, nông dân,NamĐịnh
  144. Vũ Đình Lập, lái xe, Hà Nội
  145. Trần Thị Ngọc, sinh viên,NamĐịnh
  146. Nguyễn Văn Đang, sinh viên,NamĐịnh
  147. Phạm Thị Lan, sinh viên,NamĐịnh
  148. Phạm Thị Mỹ Thơ, sinh viên, Hà Tĩnh
  149. Lưu Thị Đài, kinh doanh tự do, Hà Nội
  150. Trần Thị Loan,NamĐịnh
  151. Trần T Phượng,NamĐịnh
  152. Nguyễn T Ngắm, nông dân,NamĐịnh
  153. Trịnh Thị Hoài, sinh viên,NamĐịnh
  154. Trịnh Duy Tâm, kỹ thuật viên, Hà Nội
  155. Nguyễn Văn Tập, kỹ thuật viên, Hà Nội
  156. Nguyễn Mạnh Chiến, sinh viên, HàNam
  157. Phạm Hải Phương, học sinh, Hà Nội
  158. Hoàng Thị Thơm, lao động tự do, HàNam
  159. Đinh Thị Nga, sinh viên, Nam Định

ĐỢT 15: 
  1. Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
  2. Hoàng Thị Oanh, bác sĩ, Hà Nội
  3. Lê Quyên, lao động tự do, Nam Định
  4. Vũ Thị Phúc, lao động tự do, Hà Nội
  5. Nguyễn Văn Huyền, lao động tự do, Nghệ An
  6. Nguyễn Thị Cúc, lao động tự do, Hà Nội
  7. Trần Thị Thư, lao động tự do, Hà Nội
  8. Dương Thị Hiệp, sinh viên, Hưng Yên
  9. Lê Thị Liệu, sinh viên, Nghệ An
  10. Bùi Mai Châu, sinh viên, Nghệ An
  11. Nguyễn Thị Thanh, sinh viên, Nghệ An
  12. Lại Thị Hiền, sinh viên, Nghệ An
  13. Phạm Ngọc Bỉnh, giáo viên, Thái Bình
  14. Nguyễn Đỗ Tâm, lao động tự do, Hà Nội
  15. Nguyễn Bá Quốc Việt, học sinh, Hà Nội
  16. Đinh Thị Ngân, sinh viên,NamĐịnh
  17. Đỗ VănNam, sinh viên, Thái Bình
  18. Đinh Thị Huyền, sinh viên,NamĐịnh
  19. Nguyễn Thị Tươi, sinh viên,NamĐịnh
  20. Trần Ngọc Kiều, sinh viên, Hà Nội
  21. Nguyễn Thị Hạnh, kế toán, Hà Nội
  22. Trần Viết Đạt, sinh viên,NamĐịnh
  23. Trần Thị Hường, công nhân viên chức,NamĐịnh
  24. Nguyễn Văn Quân, cơ khí, Hà Nội
  25. Trần Văn sơn, sinh viên, HàNam
  26. Nguyễn Văn Đoàn, thợ xây,NamĐịnh
  27. Phạm Thị Tin, lao động tự do,NamĐịnh
  28. Dương Thị Hạnh, nội trợ, Hà Nội
  29. Bùi Văn Hậu, lao động tự do,NamĐịnh
  30. Nguyễn Thị Mai, nội trợ, Hà Nội
  31. Trần Thị Thanh Hương, kinh doanh, Hà Nội
  32. Hoàng Đức Mạnh, sinh viên, Phú Thọ
  33. Hoàng Đình Nhuận, sinh viên, Phú Thọ
  34. Phan Trung Mạnh, sinh viên,NamĐịnh
  35. Trần Văn Bích, lao động tự do, Hà Nội
  36. Trần Văn Bình, lao động tự do, Hà Nội
  37. Nguyễn Duy Anh, lao động tự do, Hà Nội
  38. Nguyễn Thùy Trang, giáo viên, Hà Nội
  39. Lê Văn Việt, sinh viên,NamĐịnh
  40. Nguyễn Thị Thủy, buôn bán, Hà Nội
  41. Nguyễn Văn Chấn, buôn bán, Phú Thọ
  42. Phạm Hồng Yên, nội trợ, Hà Nội
  43. Bùi Văn Hậu, buôn bán, Sóc Sơn, Hà Nội
  44. Nguyễn Thanh Tâm, giáo viên, Hà Nội
  45. Nguyễn Thị Năm, buôn bán, Vĩnh Phúc
  46. Nguyễn Thị Bảy, giáo viên, Vĩnh Phúc
  47. Nguyễn Thị Cánh, nội trợ, Giáo xứ Đại Ơn, Hà Nội
  48. Trương Thị Đôi, nội trợ, Giáo xứ Đại Ơn, Hà Nội
  49. Nguyễn Minh Dương, học sinh, Bắc Ninh
  50. Trương Linh, sinh viên, Hà Nội
  51. Đỗ Quỳnh Anh, sinh viên, HàNam
  52. Nguyễn Thùy Linh, học sinh, HàNam
  53. Đỗ Thị Vân Anh, sinh viên, HàNam
  54. Bùi Thanh Loan, sinh viên, Hà Nội
  55. Bùi Đức Thắng, Hà Nội
  56. Nguyễn Thị Mai, sinh viên, Bắc Ninh
  57. Nguyễn Thị Loan, doanh nhân, Bắc Ninh
  58. Ngô Thị Lưu, Hà Nội
  59. Dương Thị Anh, sinh viên, Bắc Ninh
  60. Nguyễn Thị Hương, may mặc, Hà Nội
  61. Phạm Ngọc Nghị, sinh viên, Giáo xứBùi Chu,NamĐịnh
  62. Nguyễn Thị Giáo, Hà Nội
  63. Nguyễn Thị Lan, Giáo xứ Hữu Bằng¸ Vĩnh Phúc
  64. Uông Thị Chín, buôn bán, Hà Nội
  65. Nguyễn Thị Mây, nông dân, Hà Nội
  66. Phạm Văn Linh, sinh viên,NamĐịnh
  67. Lê Thị Dung, Hà Nội
  68. Nguyễn Văn Trung, Hà Nội
  69. Lê Thị Chúc, nông dân, Hà Nội
  70. Vũ Thị Tiến, công nhân, Hà Nội
  71. Nguyễn Thị Tuế, nông dân, Phúc Yên
  72. Lữ Thị Ngãi, lao động tự do, Thanh Hóa
  73. Nguyễn Phi Thoại, Hà Nội
  74. Trần Thu Huyền, Hà Nội
  75. Nguyễn Thị Đông, Hà Nội
  76. Nguyễn Tiến Kỳ, Hà Nội
  77. Đỗ Thị Thúy, sinh viên, Hà Nội
  78. Nguyễn Thị Sáng, sinh viên, Hà Nội
  79. Phan Thị Thủy, sinh viên, Hà Nội
  80. Trần Thị Hải, sinh viên, Hà Nội
  81. Nguyễn Thị Phúc, sinh viên, Hà Nội
  82. Nguyễn Thị Phương, sinh viên, Hà Nội
  83. Lương Thị Bằng, sinh viên, Hà Nội
  84. Nguyễn Thị Nga, sinh viên, Hà Nội
  85. Nguyễn Thị Kim Dung, sinh viên, Hà Nội
  86. Tô Bích Thủy, sinh viên, Hà Nội
  87. Nguyễn Thị Hưng, sinh viên, Hà Nội
  88. Nguyễn Đình Vân, sinh viên, Hà Nội
  89. Lê Văn Ngạn, sinh viên, Hà Nội
  90. Nguyễn Thị Chính, sinh viên, Hà Nội
  91. Maria Trương Thị Thơm, Hà Nội
  92. Nguyễn Thị Đào, Hà Nội
  93. Đặng Thị Quyển, nông dân, Hà Nội
  94. Đặng Thị Ngọc, học sinh, Hà Nội
  95. Dương Thị Thảo, nông dân, Hà Nội
  96. Nguyễn Văn Bình, Hà Nội
  97. Nguyễn Thị Tám, Hà Nội
  98. Nguyễn Thị Nga, Hà Nội
  99. Lương Phong Nhã, Hà Nội
  100. La Huyền Trang, Hà Đông, Hà Nội
  101. Nguyễn Thị Loan, Hà Nội
  102. Nguyễn X Thắng, Thái Bình
  103. Nguyễn Thị Lai, Giáo xứ Canh Hoạch, Hà Nội
  104. Nguyễn Thị Huynh, Giáo xứ Canh Hoạch, Hà Nội
  105. Hoàng Thị Chính, Giáo xứ Hàng Bột, Hà Nội
  106. Nguyễn Thị Loan, Giáo xứ Cát Thuế, Hà Nội
  107. Nguyễn Văn Hiệu, Bắc Ninh
  108. Trương Thị Sinh, Giáo xứ Đại Ơn, Hà Nội
  109. Nguyễn Thị Hảo, Bắc Ninh
  110. Nguyễn Thị Mai, sinh viên, Phúc Yên
  111. Nguyễn Thị Uyên, Lâm Đồng
  112. Nguyễn Tiến Thành Vương, Lâm Đồng
  113. Nguyễn Thị Linh, học sinh, Bắc Ninh
  114. Lê Thị Chung, Hà Nội
  115. Nguyễn Văn Thiện, sinh viên, Hà Nội
  116. Đặng Trọng Lộc, doanh nhân, Hà Nội
  117. Trần Thị Thơm, sinh viên, Nam Định
  118. Tạ Văn Thức, sinh viên, Nam Định
  119. Nguyễn Thị Hạnh, sinh viên, Nam Định
  120. Tạ Văn Doanh, sinh viên, Nam Định
  121. Trần Văn Long, sinh viên, Nam Định
  122. Vũ Văn Báu, sinh viên, Nam Định
  123. Trần Văn Tuyền, sinh viên, Hà Nội
  124. Dương Thị Thanh Uyên, sinh viên, Phú Thọ
  125. Nguyễn Kim Trường, sinh viên, Hà Nội
  126. Phạm Thị Kính, Phú Thọ
  127. Vũ Thanh Tùng, sinh viên, Hà Nội
  128. Trần Hữu Ngọc, hưu trí, Hà Nội
  129. Trần Thị Huệ, sinh viên, Nam Định
  130. Trần Thị Hà, sinh viên, Nam Định
  131. Trần Thị Mơ, sinh viên, Nam Định
  132. Phạm Thị Trang, sinh viên, Nam Định
  133. Trần Đức Nghiệp, kinh doanh, Hà Nội
  134. Nguyễn Văn Khanh, kinh doanh, Hà Nội
  135. Lê Thị Sương, kinh doanh, Hà Nội
  136. Phạm Thị Lam, sinh viên, Hà Nội
  137. Phạm Sơn Tùng, marketing, Hà Nội
  138. Trần Thị Xuân, Hà Nội
  139. Bùi Thị Dung, lao động tự do, Hà Nội
  140. Bùi Thị Hạ, lao động tự do, Hà Nội
  141. Đặng Thị Dung, sinh viên, Hà Nội
  142. Lương Thị Hoài, sinh viên, Yên Bái
  143. Nguyễn Khắc Đương, xây dựng, Hà Tĩnh
  144. Dương Thị Hương, y sĩ, Nghệ An
  145. Mai Văn Cung, nông dân, Nam Định
  146. Nguyễn Thị Mai, may mặc, Hà Nội
  147. Hà Trung Kiên, kinh doanh, Hà Nội
  148. Đặng Hồng Phương, kinh doanh, Hà Nội
  149. Vũ Thị Hưởng, kế toán, Thái Bình
  150. Nguyễn Thị Phương Anh, sinh viên, Hưng Yên
  151. Lê Thị Thu, y tá, Hà Nội
  152. Nguyễn Bích Huệ, lao động tự do, Hà Nội
  153. Nguyễn Thị Thơ, kế toán, Hà Nội
  154. Phạm Thị Dung, Hà Nội
  155. Trần Thị Hoài, sinh viên, Hà Nội
  156. Nguyễn Văn Khôi, sinh viên, Hà Nội
  157. Đỗ Văn Tuyến, kinh doanh, Hà Nội
  158. Mai Thị Thúy, kế toán, Hà Nội
  159. Nguyễn Thị Ba, Giáo xứ Từ Châu, Hà Nội
  160. Nguyễn Thị Vược, Giáo xứ Từ Châu, Hà Nội
  161. Nguyễn Thang Nhung, Giáo xứ Từ Châu, Hà Nội
  162. Nguyễn Văn Hùng, Giáo xứ Từ Châu, Hà Nội
  163. Nguyễn Định, Giáo xứ Từ Châu, Hà Nội
  164. Nguyễn Thị Phượng, Giáo xứ Từ Châu, Hà Nội
  165. Nguyễn Thị Sen, Giáo xứ Từ Châu, Hà Nội
  166. Hoàng Thị Lan, sinh viên, Nam Định
  167. Vũ Ngọc Tuân, lao động tự do, Thái Bình
  168. Nguyễn Thị Loan, lao động tự do, Hà Nam
  169. Nguyễn Văn Hoàng, lao động tự do, Nam Định
  170. Đoàn Nga, nội trợ, Hà Nội
  171. Trần Tốt, sinh viên, Ninh Bình
  172. Vũ Duy Tiến, hưu trí, Hải Dương
  173. Hoàng Thị Tươi, giáo viên, Lạng Sơn
  174. Nguyễn Thị Lan, buôn bán, Lạng Sơn
  175. Nguyễn Đức Uy, tiến sĩ, Hội Tâm lý học thành phố Hà Nội
  176. Cao Thiếc Hùng, cử nhân Kinh tế, cử nhân Luật, Hà Nội
  177. Nguyễn Văn Tuyến, nghề nghiệp tự do, Hà Nội
  178. Kiều Văn Lênh, nhân viên khách sạn, Hà Nội
  179. Son Pham, Hoa Kỳ
  180. Lê Công Trí, giáo viên, TP HCM
  181. Lê Chung, thợ cơ khí, Cộng hòa Czech
  182. Quốc Nguyễn, Hoa Kỳ
  183. Nguyễn Xuân Hoài, hưu trí, TP HCM
  184. Vinh Q Dang, nghỉ hưu, Hoa Kỳ
  185. Hà Văn Vinh, giáo viên nghỉ hưu, Bắc Giang
  186. Phạm Ngọc Cảnh Nam, nhà văn, Đà Nẵng
  187. Trần Hưng Thịnh, kỹ sư, đã nghỉ hưu, Hà Nội


Copy từ: Bauxite Việt Nam


Kế sách cứu nước – xây dựng nội lực đất nước hùng cường thế kỷ XXI



Kế sách cứu nước – xây dựng nội lực đất nước hùng cường thế kỷ XXI của Tiến sĩ Sử học Nguyễn Nhã gửi quý lãnh đạo đất nước cùng thanh niên Việt Nam ở trong và ngoài nước

TS Nguyễn Nhã gửi đến BVN lá thư ngỏ văn xuôi dưới đây cùng với một bài hát nói và 408 câu thơ lục bát được ông chia thành 12 phần, ông gọi là 12 “hiền kinh quốc đạo”, hy vọng được sử dụng trong ngày giỗ vua Hùng hàng năm. Do khuôn khổ và tính chất của một trang mạng không chuyên văn thơ, chúng tôi xin trân trọng đăng lá thư và bài hát nói của ông, còn 12 “hiền kinh quốc đạo” thì đề nghị ông chuyển thẳng đến Ban tổ chức ngày giỗ vua Hùng để họ nghiên cứu sử dụng.
Bauxite Việt Nam
Tôi vốn là nhà sử học nghiên cứu lịch sử Việt Nam với cách nhìn ngàn năm trước hướng về ngàn năm sau, nhận thấy rằng hiện nay không còn là nguy cơ xâm lược mà thật sự đã xảy ra xâm lược lãnh thổ ở Biển Đông và xâm lược phá nát kinh tế văn hóa xã hội Việt một cách thâm sâu chưa từng có.
Song đây lại là thời cơ có một không hai của người Việt chúng ta, xin soạn thảo kế sách cứu nước và xây dựng nội lực đất nước hùng cường thế kỷ XXI, gửi tới quý lãnh đạo nhà nước, quý lãnh đạo chính trị, các doanh nhân cũng như toàn dân. Tôi ước mong tất cả người Việt chúng ta trong và ngoài nước phải bừng tỉnh, cần có tâm và có tầm, nhất là các bạn thanh niên hãy cương quyết xóa đi những gì xấu xí của người Việt, quyết bỏ qua một bên và hàn gắn những đau thương của thế kỷ XX với “một triệu người vui và một triệu người buồn”. Chúng ta vượt lên chính mình, nỗ lực không ngừng nghỉ xây dựng một nước Việt Nam hùng cường của thế kỷ XXI, sánh vai với các cường quốc năm châu bốn biển, quyết không còn là quốc gia bị lệ thuộc, nạn nhân của thời cuộc quốc tế, bị xử ép làm nhục và bị tụt hậu nữa!
Kế sách này phải là kế sách của toàn dân trước hết là của thanh niên đi tiên phong trong quá trình đại hòa dân tộc, mỗi người một kế hoạch nhỏ đầy sáng tạo xây dựng nội lực đất nước hùng cường. Nhà nước là yếu tố quan trọng song nhất định từ bỏ mọi bao cấp kể cả bao cấp yêu nước.
Kế sách cứu nước này phải kế thừa sự khôn ngoan của cha ông hàng ngàn năm nay từ tuyên ngôn độc lập “Nam quốc sơn hà Nam đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” của Lý Thường Kiệt, “Văn hiến Bắc Nam mỗi nước mỗi khác” của Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, lòng nhân ái của Lý Thánh Tôn[g], Trần Nhân Tôn[g]…
Kế sách cứu nước này phải là kế sách đấu tranh ngoại giao hòa bình đa phương hóa, đa dạng hóa, sử dụng sức mạnh tổng hợp thời đại toàn cầu.
Kế sách cứu nước này phải là chiến lược chứ không phải chỉ là sách lược giai đoạn, đoàn kết dân tộc, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, huy động lòng yêu nước toàn dân trong xây dựng nội lực đất nước hùng cường. Các công ty đều lấy mục tiêu góp phần phát triển đất nước, những gì hại cho quyền lợi đất nước quyết không làm…
Kế sách cứu nước này phải là kế sách trở về nguồn, giữ gìn bản sắc Việt, tạo lòng tự hào dân tộc, tự lập tự cường trong lịch sử đấu tranh cũng như trong xây dựng – xây dựng quốc đạo nhân chủ, thờ Quốc tổ, thờ anh hùng dân tộc. Những triết lý sống Việt là mẫu số chung của tất cả người ViệtNamkhông phân biệt chính kiến tôn giáo, địa phương, tạo động lực yêu nước chân chính phát triển đất nước hùng cường. Như người Nhật đã lấy ngày 31 tháng 12 hàng năm tất cả  già trẻ lớn bé đến đền thờ Thần đạo thì người Việt chúng ta cũng lấy ngày 10 tháng Ba âm lịch tất cả đều đến đền thờ Quốc tổ, các đình, đền, miếu có biểu tượng Quốc tổ và anh hùng dân tộc để chiêm bái tỏ lòng đoàn kết dân tộc, quyết tâm trở về cội nguồn xây dựng đất nước hùng cường.
Kế sách cứu nước này phải là kế hoạch tạo niềm tin, cách mạng văn hóa xã hội, không được dối trá, nói dối, cùng xây dựng xã hội lành mạnh tử tế, pháp trị.
Kế sách cứu nước phải thật sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, đẩy mạnh phong trào thế giới du với hàng trăm ngàn, hàng triệu du học sinh, kể cả các thầy giáo đi học hỏi thu tóm những tinh hoa hiện đại của thế giới về xây dựng đất nước hùng cường, phải làm cuộc cách mạng văn hóa giáo dục xây dựng đất nước hiện đại hùng cường. Phải tạo động lực yêu nước trong đấu tranh và xây dựng, lấy mối nhục tụt hậu và bị cường quốc láng giềng xử ép, làm nhục làm động cơ hành động xây dựng đất nước.
Kế sách cứu nước này phải là chiến lược phát triển kinh tế biển, tạo cú hích cất cánh kinh tế Việt Nam như xây dựng cảng sâu nhất thế giới như cảng Vân Phong với đường cao tốc xuyên quốc gia không qua đèo nào, đoàn kết với các nước ASEAN  để các nước ASEAN như Lào, Miến Điện, Campuchia, Thái Lan sử dụng. 
Kế sách cứu nước ngoài chiến lược lâu dài trên, phải ưu tiên trước tiên tập trung chiến lược đối phó xâm lược ở Biển Đông với ngoại giao khôn ngoan hòa bình đa phương, đa dạng, tích cực phòng vệ vững chắc các hải đảo, quốc phòng toàn dân, mỗi ngư dân là một dân binh.
Phải như Trung Quốc từ trung ương có hẳn một viện nghiên cứu rất lớn về Biển Đông và nhiều cơ quan trực thuộc trung ương khác từ Viện Khoa học đến Bộ Tư lệnh Hải quân, cơ quan tình báo, tất cả thường xuyên tiến hành nghiên cứu, biên soạn tài liệu, tổ chức hội thảo… về chủ quyền biển đảo. Rồi đến các địa phương cấp tỉnh, mỗi tỉnh ven biển đều có nhiều cơ quan nghiên cứu về biển đảo cũng như đến các trường đại học, đều tham gia nghiên cứu, quảng bá chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông.
Với xâm lăng kinh tế, văn hóa xã hội thì quyết bảo vệ bản sắc Việt, xã hội lành mạnh, chống văn hóa, giáo dục nô dịch ngoại lai, xây dựng nền kinh tế tự lập tự cường, không lệ thuộc, đặc biệt cấp tốc bài trừ các hàng Trung Quốc và cách nuôi trồng Trung Quốc độc hại như rau củ quả, thực phẩm, các gia vị, phẩm màu, các đồ chơi cùng nhiều hàng hóa khác rất độc hại đang đe dọa đến sự sống còn của mỗi người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam! 
Hát nói Chúc mừng năm mới 2013      
Hãn Nguyên Nguyễn Nhã 

Mừng chúc hai ngàn mười ba năm mới
 Thế gian này tiến tới bình an
 Chẳng còn xử ép nướcNam
Chẳng còn chịu nhục chẳng còn chịu thiệt
Tham lam quá mưu gian chiếm biển
Hung dữ ôi ý định bá quyền!
 ViệtNam ơi ta quyết tiến lên
 Giữ bản sắc giữ hồn thiêng Đất Việt
Giáo dục quốc sách hàng đầu đào tạo nhiều tuấn kiệt
 Đưa  ViệtNamthành cường quốc biển tương lai
 Thanh niên rường cột ngày mai
1/1/2013

Tác giả gửi trực tiếp cho Bauxite Việt Nam

Biển Đông : Manila quan ngại trước thông tin về bản đồ mới của Trung Quốc


Bản đồ yêu sách chủ quyền (đường chấm đỏ) của Trung Quốc tại  Biển Đông
Bản đồ yêu sách chủ quyền (đường chấm đỏ) của Trung Quốc tại Biển Đông

Trọng Nghĩa
Chính quyền Philippines hôm 13/01/2013 xác nhận mối quan ngại trước các nguồn tin báo chí cho biết là Bắc Kinh vừa công bố một tấm bản đồ chính thức mới, gộp vào lãnh thổ Trung Quốc toàn bộ các đảo đang tranh chấp ở Biển Đông. Phủ Tổng thống Philippines cho biết sẽ chỉ thị cho Đại sứ quán của nước này tại Trung Quốc xác minh nguồn tin trên trước khi có phản đối chính thức.

Phát biểu trên đài nhà nước dzRB, bà Abigail Valte, phó Phát ngôn viên của Tổng thống Aquino xác nhận : « Chúng tôi đã biết thông tin đó, vì vậy, Bộ Ngoại giao sẽ yêu cầu Đại sứ quán Philippines tại Bắc Kinh xác minh thông tin cụ thể đó trước khi có bình luận. »
Như tin RFI đã loan, Tân hoa xã mới đây đã cho biết là Trung Quốc vừa công bố một bản đồ chính thức mới, trong đó các quần đảo trên Biển Đông đều thuộc lãnh thổ Trung Quốc, bất chấp việc các vùng này đang tranh chấp với các láng giềng Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Đài Loan.
Tấm bản đồ nói trên được xem là một thủ đoạn mới của Bắc Kinh nhằm độc chiếm Biển Đông. Vào năm 2012, trong cùng một chiều hướng, Trung Quốc đã ban hành hộ chiếu mới bên trong cũng in hình bản đồ với đường lưỡi bò sát nhập toàn bộ các vùng Biển Đông đang tranh chấp vào trong lãnh thổ Trung Quốc.
Cũng trong khuôn khổ thực hiện ý đồ thâu tóm Biển Đông, Tân hoa xã hôm 10/01/2013 tiết lộ là vào tháng năm và tháng sáu sắp tới, chiếc tàu lặn cực sâu Giao Long của Trung Quốc sẽ thực hiện một số nhiệm vụ ‘thử nghiệm’ dưới đáy Biển Đông.
Hãng tin chính thức của Bắc Kinh không nói rõ là các ‘thử nghiệm’ kể trên là gì, nhưng cùng ngày, họ cho biết là Trung Quốc đã lên kế hoạch khảo sát toàn bộ các vùng biển đảo của mình để xác định các nguồn tài nguyên biển. Điều đáng chú ý là kế hoạch trên đặc biệt đề cập đến khu vực Tam Sa (tức là Biển Đông) và các điểm trên đường cơ sở (trong đó có tất cả các vùng biển đang tranh chấp).
Kế hoạch khảo sát kể trên sẽ bắt đầu « vào một thời điểm nhất định trong nửa đầu năm nay… và dự trù hoàn tất vào tháng 12 năm 2016 ».

Copy từ: RFI


 

Làm bằng miệng


LÀM BẰNG MIỆNG


 * Bùi Văn Bồng
Từ mấy thập kỷ gần đây, có một câu ngạn ngữ mới trong dân gian nước ta: “Ăn của tham, làm bằng miệng”. Câu ngạn ngữ này ám chỉ vào những thói hư tật xấu, chủ yếu phê phán những vị ‘quan cách mạng’ không đổi mới mà ‘tự chuyển hóa’ đổi sang đời mới, tức những cán bộ có chức có quyền tham nhũng; mượn ghế, dựa thế chỉ để lo trục lợi, tư duy nhiệm kỳ tranh thủ vơ vét;  gian dối, nói mà không làm, hứa hão, hoặc nói hay làm dở; nói đằng Đông, làm đằng Tây. Nó cũng tương tự như ngạn ngữ xưa: “Nói như rồng leo, làm như mèo mửa”, hoặc “Nói cho kiến trong lỗ bò ra, làm như ma sợ thầy phù thủy”
Gần đây, trên công luận (nhất là báo mạng) và dư luận tập trung nói nhiều đến nhân vật lãnh đạo mới vừa được kéo từ Đà Nẵng lên Trung ương - ông Nguyễn Bá Thanh.
Cái Ban Nội chính Trung ương mà ông Thanh được phân công làm Trưởng ban thực chất đã ra đời và hoạt động suốt 40 năm 91966-2006). Từ 2007, sáp nhập vào Văn phòng bên Đảng (Trung ương Đảng, tỉnh ủy, thành ủy thuộc Trung ương), như một bộ phận chuyên trách, nhiệm vụ và biên chế bị khoanh lại rất nhiều. Người ta nói, coi như hơn 5 năm qua, Đảng mất đi quyền về giám sát, lãnh đạo về Nội chính và Kinh tế. Những quyền này được tăng cường cho Ban chỉ đạo phòng - chống tham nhũng, do Thủ tướng trực tiếp làm Trưởng ban.
Kê khai tài sản, nhớ đừng có đứng tên
là được rồi! Ô kê, A-le-hấp
Truy ta thì ta làm "anh hùng Nấp - Núp"
Ông Nguyễn Bá Thanh được giao trọng trách này khi Ban Nội chính Trung ương vừa được ‘mã đáo’ trở lại đường xưa do Đảng trực tiếp nắm và chỉ đạo. Sự hoàn trả này cũng gặp nhiều tranh cãi rắc rối, khó khăn, có vận động, có nghị quyết, có cả trao đổi và đánh đổi, nhưng rồi coi như Đảng thắng.
Sau khi nhận cương vị mới, cái ‘dàn’ nhân sự từ Ban Chỉ đạo PCTN bên Chính phủ chủ yếu theo ‘mã đáo’ về bên Trung ương Đảng. Người ta nói: “Thần thiêng nhờ bộ hạ”. Cái bộ máy tham mưu, giúp việc, là những tay làm và chân chạy cho ông Thanh, có ủng hộ ông hay không thì may ra có trời mới biết. Nhưng dư luận đang cho rằng, dẫu ông Thanh có quyết tâm cao ở cương vị mới, nhưng ‘một cánh én không làm nên mùa xuân’. Đúng thế, ông có bị cô đơn lạnh vắng, kể cả bị cô lập hay không? Ông có bị ‘bộ phận không nhỏ’ nhan nhản, đầy quyền lực bao vây và phản công không? Ông có bị rơi vào bẫy việt vị không? Ông có được quyền chọn và thay đổi dàn nhân sự hay không? Và nữa, ông có bình tĩnh, sáng suốt, đủ năng lực và bản lĩnh để làm ra tầm ra miếng gì không?...Rất nhiều câu hỏi của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân dù kỳ vọng nhưng vẫn đang đặt ra đối với ông Bá Thanh.
Gần đây, nhiều nơi ông phát biểu rất mạnh, tỏ rõ chí quyết, nêu bật bức xúc. Nhưng bộc trực và rung dọa hoặc lộ mục tiêu không phải là ‘thượng sách’ của nhà cách mạng. Mới đây, ông nói tại Đà Nẵng, nơi mà ông nắm trọn quyền Đảng, quyền Nhà nước, ‘vua một cõi’, ông đã nói ra rả, nói cho “bóa chí’ không kịp đăng. Khi đề cập đến vấn đề tham nhũng, một trong những vấn nạn đang gây ảnh hưởng trực tiếp lên nền kinh tế mà Ban Nội chính ‘mặc áo mới’ của ông có nhiệm vụ giải quyết, ông tuyên bố thẳng cánh: "Sắp tới tôi sẽ rà vô một số cái, cho hốt liền, không nói nhiều". Ông nói, đồng thời dường như tiết lộ khéo là đã xác định một vài mục tiêu nhất định khi nhận xét "một số ông giờ đang ngồi run". Lấy ví dụ từ việc cán bộ ngân hàng giúp doanh nghiệp nâng khống giá đất để được vay vốn nhiều hơn, ông Thanh tuyên bố sẽ 'bắt ngay những cán bộ ngân hàng "trời ơi" đó. Và "bắt liền chứ không cần phải đợi có bằng chứng chung chi gì hết"; “mấy cái ông đó lãnh đạo kiểu gì? Ông có phải học sinh mẫu giáo đâu, ổng quá trời lãi nhưng vẫn cố tình làm như thế để kiếm chác. Đó là ăn mà còn phá nữa nhưng chả ai nói gì”…


- Phải quyết đấu, phải quyết liệt, lần này
tao mà không chống được tham nhũng
 thì tao sẽ từ chức! Ọc...ọc...

Có chỗ ông nói đúng với khẩu khí, với phong cách từng quen mới ‘từ khoảng trời riêng soi bóng sông Hàn rơi xuống’. Nhưng xem ra, với thể chế, nếp quen không văn bản và các thang bậc cấp ủy trực tiếp chỉ đạo án của ta, làm gì có chuyện "bắt liền chứ không cần phải đợi có bằng chứng chung chi gì hết". Đừng mơ, thời ông Bao Công bên Tàu cũng săn tìm bằng chứng nát nhừ Chiển Chiêu, liêu xiêu tứ quái ‘Vương Triều, Mã Hán, Trương Long, Triệu Hổ’ mới bắt tội phạm, huống hồ cái lối mà thằng cơ chế đẻ ra ‘có cả rừng luật nhưng làm theo luật rừng’ như ta. Đã nhiều vụ tày đình, chứng cứ rành rành mà không bắt, mà có bắt lại tha, thậm chí dùng trò ảo điều động, cho đi học, hoặc ‘kỷ luật hất lên ghế trên’, làm gì mà dễ dàng “bắt liền” như cái vốn quý khí chất Hòa Vang của ông?
Cho nên, người viết bài này không gì hơn chỉ muốn can gián ông là cứ làm, đừng phát ngôn, phát biểu nhiều, đừng nói nhiều. Người ta thường nói: “Hữu xạ tự nhiên hương, phát sáng do nguồn lửa”, ông cứ làm cho ngon, cho khéo, cho dứt điểm vụ việc đi, nói nhiều và nói mạnh cũng nguy lắm. Một cái lưỡi nhưng lại là con dao hai lưỡi. Có khi lợi bất cập hại, càng thêm nguy. Ví như vụ Tiên Lãng, vụ Ecopark Văn Giang  lình xình cả năm rồi đó, rối tinh rối mù, ông cứ mạnh tay và trỗ tài làm sáng tỏ vụ việc, xử lý đúng bản chất vụ việc theo kỷ cương phép nước, là ngon rồi. Coi như Nghị quyết 4 như “thượng phương bảo kiếm” cho ông đấy!
Phút 89 mới là quyết định. Còn như thời điểm này, mới rà bóng vài đường gọi là khởi động, ông đừng vội hô to mà phí sức. Đối phương đang xói vào chân giầy mới cóng của ông đấy. Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, bạn thân của ông cũng có sự cảnh báo, tâm sự với ông trên báo Tuổi trẻ: “Nay anh cũng tròn 60 tuổi, tuổi sung mãn của một chính khách như thường thấy ở các nước khác, nhưng ở ta thì anh cũng đang ở “phút 89” như tôi năm nào. Có điều cái thế và lực của anh có khác hơn: ủy viên Trung ương Đảng, trưởng Ban Nội chính trung ương. Với thế và lực vượt trội này, nếu thành công, chỉ vài phút đầu lịch sử thì cái tuổi và nhiệm kỳ công tác của anh sẽ còn “thêm hai hiệp phụ” để dứt điểm cái thế nhùng nhằng với tham nhũng đã thành quốc nạn hiện nay! Tôi hi vọng và kỳ vọng ở anh” …
Ông Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Cố vấn Chính phủ thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cũng nói: Trong các nhiệm kỳ của ông Thanh: "Đà Nẵng đã liên tục giữ vài trò và trở thành một cực kinh tế hàng thứ ba của Việt Nam”. Và: "Thành phố này đang không ngừng cạnh tranh với Hà Nội và TP Hồ Chí Minh".  Mới đây, trong một phỏng vấn với BBC Việt Ngữ ngày 7/1, nguyên Viện trưởng viện Kinh tế Trung ương, tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhận xét rằng việc bổ nhiệm ông Thanh vị trí Trưởng Ban nội chính chứng tỏ sự tín nhiệm của cấp lãnh đạo và cho rằng ông Thanh sẽ "không ngại va chạm" ... "Tôi nghĩ đã làm chính trị mà sợ va chạm thì thôi không nên làm nữa. Trên đời chỉ có hai người không phải va chạm gì đó là người đã chết rồi và người mới đẻ ra." Ông Doanh nói: "Ông Thanh không phải người như thế".
Vậy nên, chỉ mong ông đừng vướng vào cái tật mà ngạn ngữ đã đức kết, làm bằng tài năng, trí tuệ, chữ Tâm và nhiêỵ huyết vì dân, vì nước, có vụ phai rnhư cứu nước trong lúc này, đừng bao giờ ‘làm bằng miệng’. Chúc ông tấn tới gặp nhiều thuận lợi, an toàn và thành công!
BVB
 
 

Copy từ: Bùi Văn Bồng


Giữa bao là đạn


Từ khi công an tỉnh Nghệ An chuyển giao tôi cho phía Hà Nội, cuộc hỏi cung diễn ra gay gắt hơn nhiều lần trước đây. Bỗng nhiên sau khi cặm cụi miệt mài đối phó với từng câu hỏi,một hơi thuốc lá làm tôi chợt nhận ra trọng tâm của các câu hỏi dẫn để xoáy vào vấn đề gì.

Tôi có phải là đảng viên đảng Việt Tân không.?

Câu hỏi này không phải hôm nay, khi nhà chức trách thấy tôi đi vào Vinh, nơi đang diễn ra phiên toà của mười mấy thanh niên mà nhà cầm quyền kêu tội của họ là tham gia Canh Tân Cách Mạng Đảng gọi tắt là Việt Tân. Câu hỏi này được đặt ra từ lâu lắm rồi.

Với các bạn đọc, những người tôi tôn trọng nhất, tôi xin trả lời trước sau như một. Tôi không phải là đảng viên của bất kỳ đảng phái nào. Với phía nhà chức trách thì cứ để họ tìm hiểu, phía những người được gọi là '' nhà đấu tranh dân chủ xịn '' khác thì cứ để họ tung tin lờ mờ.

Tôi chơi với những người bạn tốt, họ có thể là đảng viên đảng Cộng Sản hoặc có thể là đảng viên đảng Việt Tân ( mà thực sự tôi cũng không rõ họ có đúng là đảng viên Việt Tân hay không, vì họ chưa bao giờ nói với tôi, chỉ thấy khi nhà cầm quyền bắt họ đem ra xét xử thì trong cáo trạng nói thế). Tôi chả ác cảm với bất kỳ đảng phái nào hết. Cũng như không ác cảm với tôn giáo nào hết.

Nhưng khi tôi phải đối phó những câu hỏi nghi vấn tôi có phải là đảng viên đảng Việt Tân hay không.? Thì dư luận từ một số nhà '' đấu tranh dân chủ ''  đưa nghi vấn tôi là đặc tình của an ninh Việt Nam. Điều đáng nói chính những nhà ''dân chủ '' này tạo ra dư luận tôi là Việt Tân để an ninh Việt Nam điều tra. Trong khi tôi chật vật với cơ quan an ninh điều tra về chuyện đó, thì bên ngoài họ đưa tiếp tin tôi là đặc tình của nhà cầm quyền.

Cánh cửa nhà tù bỗng rộng mở, tôi nhìn thấy nó đã hé ra. Không phải vì tôi có tội, mà vì dư luận để tạo rằng tôi có tội, đã được tạo ra từ cả hai bên là nhà cầm quyền và những nhà '' đấu tranh dân chủ quốc nội ''. Chỉ cần dư luận dấy lên nghi ngờ,số phận tôi sẽ được định đoạt.

Những nhà ''đấu tranh dân chủ '' không muốn thiên hạ nhìn họ ngồi ở salon trong khi tôi lặn lội khắp những điểm nóng bỏng. Như thế chả mấy chốc tôi được dành nhiều thiện cảm của đám đông hơn họ. Bởi thế họ phải làm gì đó để tôi không thể ngược xuôi đến nơi như thế. Và điều tốt nhất để giải thích cho dư luận việc tôi có mặt mọi nơi mà vẫn vẹn toàn ( không bị bắt tù ) thì chỉ là người của phía an ninh.

Những nhà chức trách thì cũng quá mệt mỏi với việc chỗ nào tôi cũng có mặt từ Tôn Giáo, biểu tình NoU, dân oan, dân chủ, dân quyền.. Và.chuyên án nào cũng phải kết thúc, chả thể cứ kéo dài năm này qua năm khác mãi được. Chưa kể ai tôi cũng quen, từ Nam ra Bắc, từ Đông sang Tây, ai thì thằng Hiếu Gió cũng quen, cũng chuyện, cũng đi cùng.

Tình cảnh của tôi chỉ có một con đường.

Không giao du, không gặp ai, không đến chỗ nào có sự kiện.

Chỉ có thế tôi mới chứng minh tôi không phải là đặc tình, không phải là đảng viên của đảng phái nào. Và hơn hết chỉ có thế tôi mới an toàn về thân thể cũng như danh dự.

Rất buồn là nhiều người anh em của tôi đã phải trong chốn lao tù, còn tôi thì giã từ như vậy. Nhưng tôi tin rằng Pau Lê Sơn, Nguyễn Văn Cương, Tạ Phong Tần, Điếu Cày,Cù Huy Hà Vũ ... không hề trách cứ tôi, bởi tôi sống trọn vẹn nghĩa tình trong khả năng mà tôi có thể có.

Tôi cũng không oán trách gì những nhà '' đấu tranh dân chủ '' đang ngồi trong bóng tối tìm cách khoét mâu thuẫn giữa tôi và những người bạn của mình. Hoặc tìm cách tạo dư luận xấu cho tôi để thiên hạ nghi ngờ, xa lánh. Chính trị là cuộc chơi cần nhiều thủ đoạn, mọi mưu toan đều phải có. Ngàn xưa đến nay thiên hạ đều làm thế, chả có gì là lạ.

Từ một con ngõ bụi bặm, trong một kiếp đời lưu manh, giang hồ. Tôi chơi một cuộc chơi đấu tranh với điều bất công trên đất nước này, đầy nguy hiểm và thiệt thòi. Đến nay không bị xử án tù đã là một điều thành công. Thành công nhất là sự vẹn toàn của mình không phải trả giá bằng khai báo về một người nào khác. Không phản trắc, không trở cờ, không bán anh em, bằng hữu...để được tiền tài, danh vọng hay sự an toàn của mình.

Giờ tôi chỉ có ước mơ, thanh thản viết những mẩu chuyện, tản văn về cuộc sống. Hàng chiều đi đón con, đi chợ, nấu cơm. 

Thật buồn là tôi có bản lĩnh chấp nhận tù đày, đối mặt với hiểm nguy. Nhưng tôi không đủ độ trì để đối diện với những lời xuyên tạc của những người mà họ vẫn rêu rao rằng họ đấu tranh cho chính nghĩa. Ai cũng khó vẹn toàn, tôi chỉ là một cá nhân nhỏ bé. Chẳng mơ ước công hầu, khanh tước, chả mơ đến giấc mộng quan trường hay những điều lớn lao mình sẽ làm nên trong cuộc đời này.

Nhưng đừng ai nghĩ rằng tôi đang suy sụp, sợ hãi để dồn những đòn tấn công cuối cùng để toan tính rằng tôi có thể thoả hiệp, đầu hàng mong đổi lấy sự an toàn. Điều đó sẽ không bao giờ có, dù tôi có bị thế nào đi chăng nữa.
 
 

Copy từ: Người Buôn Gió


NHỮNG CÁCH “BÀY TỎ LÒNG YÊU NƯỚC”



“Dù sao thì đây cũng là đất của mình, quê hương của mình, đồng bào của mình, nói một lần không được sẽ nói nhiều lần, nếu nói nhiều lần không được thì nói ngàn lần chắc cũng phải tỉnh ra… Ai thích giống Tây, giống Mỹ thì tìm tới Starbucks còn ai muốn uống cốc cà phê tuyệt hảo, muốn khơi nguồn sáng tạo, muốn yêu nước thì tìm tới Trung Nguyên”. (Đặng Lê Nguyên Vũ).

Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Cà phê Trung Nguyên - Ảnh: giacaphe.com


Sáng nay đọc được lời anh Tổng giám đốc Trung Nguyên như thế, chán.

Không lẽ, không uống cà phê Trung Nguyên thì không yêu nước sao? Không biết cà phê Trung Nguyên xuất khẩu ở những nước “mất dạy” nào rồi, dân các nước đó hẳn toàn lũ không... yêu nước, thì mới đi uống cà phê nhập khẩu từ nước khác!?

Sau cái vụ in sách vĩ nhân cách đây vài năm, bao nhiêu khâm phục dành cho anh Tổng Trung Nguyên bị giảm đi một nửa. Nửa còn lại nay mất nốt! Lẽ nào cái “triết lý Việt” “Giai làng ta lấy gái làng ta” lại thâm căn cố đế đến thế trong con người ông “vua cà phê” luôn tỏ ra là người thích triết lý và sính chữ nghĩa?

Phải nói là mình có thời “mê mẩn” cà phê Trung Nguyên số bốn, bắt chước mê ... theo một anh bạn thì đúng hơn. Nhất là khi đã ra khỏi địa bàn cà phê Nhân, về các tỉnh xa, nhìn thấy Cà phê Trung Nguyên như thấy cả ... sự sống hồi sinh. Không phải là người địa phương để mà biết quán dở quán ngon thì cứ vào Trung Nguyên là chắc ăn nhất. Chí ít, bàn ghế và thìa cốc cũng đạt được một tiêu chuẩn sạch sẽ hay một phong cách quán xá nhất định nào đó.

Ra nước ngoài, không cà phê Nhân, cà phê Mai, không cả Trung Nguyên, “thôi thì có em... Starbucks... đời ta còn hy vọng”. Ly cà phê này được uống lần đầu ở Singapore , mê luôn. Sau khi phải uống một loạt cà phê nhạt toẹt khác, Starbucks vẫn là cái tên đáng tin cậy, giống như uống Trung Nguyên khi về các tỉnh lẻ vậy. Từ đó, đến thành phố nào ở châu Á, câu đầu tiên hỏi lễ tân khách sạn cũng là Starbucks gần nhất ở đâu.

Anh Vũ ví von “cân đong” tình yêu nước với khẩu vị cà phê làm mình nhớ lại lần suýt “cãi nhau” với bác tổ trưởng hơn chục năm trước, chỉ vì cái khẩu hiệu dính đến hai chữ “yêu nước”. Bác vận động mình mua trái phiếu chính phủ. Mình bảo không mua. Lý do, không thích cái khẩu hiệu: “Mua trái phiếu là yêu nước”. Thế nếu nghèo, ăn chưa đủ, không mua được trái phiếu thì không yêu nước à? Cháu không mua đấy, làm gì được cháu nào? Mình cãi.

Tất nhiên, mình chẳng cãi anh Trung Nguyên làm gì, mất thời gian. Thậm chí còn phải cảm ơn anh. Nhờ anh mà mình tự nhiên nghĩ tinh tinh ra một loạt khẩu hiệu. Ví dụ, muốn con gái Việt Nam đừng đi lấy chồng Đài Loan, khẩu hiệu cổ động sẽ là: “Lấy trai Việt Nam là yêu nước”. Trai Việt nghe tha hồ mát lòng mát dạ nhé!

Để giải quyết tắc đường, ngành vận tải nên có khẩu hiệu “Đi bộ là yêu nước”, hoặc “Đi xe buýt là yêu nước” để ủng hộ anh Đinh La Thăng. Ngành giải trí sẽ có khẩu hiệu “Nghe nhạc Việt là yêu nước”, “Xem phim Việt là yêu nước”, vân vân và vân vân. Muốn toàn dân làm gì, cứ việc gắn cái mệnh đề “yêu nước” vào, là quá ổn.


Nghệ sĩ Kim Chi ở chiến trường Nam Bộ thời trẻ - Ảnh: cand.com

Có nhiều cách để bày tỏ lòng yêu nước (và chính kiến) mà cách của nữ nghệ sĩ Kim Chi, từ chối làm đơn xin xét duyệt được tặng bằng khen của Thủ tướng, là một thí dụ. Đọc lá đơn của chị mà cảm động và cảm phục. Những lời khảng khái đó chỉ có thể xuất phát từ con tim chân thật và lý trí tỉnh táo: “Không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là điều rất tổn thương vì cảm giác mình bị xúc phạm”. Chẳng khác nào Lê Vân “từ chức” làm diễn viên hai chục năm trước.

Chị Kim Chi làm mình nhớ lại một chi tiết Lê Vân kể, mình đã không cho vào sách. Hôm ấy, nói về việc diễn phục vụ các đoàn khách của chính phủ trong vai trò con hát mua vui hơn là nghệ sĩ đích thực, vẻ mặt Lê Vân vừa hài hước vừa dằn dỗi giống như trẻ con. Đại ý là, có lần diễn xong, một “quan lớn” nhất định muốn chụp ảnh với chị, đứng sát cạnh chị. Thay vì phóng to bức ảnh ấy lên, treo trang trọng phòng khách như... lẽ đời, chị Vân bèn “cắt béng cái đầu ông ấy đi”. Đơn giản vì chị không thích gương mặt ấy, thế thôi. Còn vì sao chị lại “xử trảm” ông ấy như thế thì chị lại “quên” không kể. Mình cũng chẳng gặng hỏi.

Việc bày tỏ tình cảm yêu ghét, tôn trọng hay khinh bỉ quan chức (hay người của công chúng nói chung) phải được coi là lẽ tự nhiên rất con người, là quyền tối thượng của mỗi công dân trong xã hội văn minh, cần được khuyến khích bày tỏ thay vì cấm đoán. Tuy nhiên, ở Việt Nam thì phải theo “truyền thống” người Việt, tức là phải tiêu diệt “cái tôi cá nhân chủ nghĩa”, phải né tránh “phạm húy” vào những “vùng nhậy cảm” mù mờ... Để tránh làn sóng thức tỉnh “noi gương” chị Kim Chi, có lẽ phải sáng tạo ngay lập tức một khẩu hiệu mới cho các nghệ sĩ Việt Nam: “Không từ chối bằng khen của Thủ tướng là yêu nước”.

Trở lại chuyện “muốn yêu nước thì tìm đến Trung Nguyên”, để toàn dân “thấm nhuần quán triệt” tất cả các khẩu hiệu yêu nước trên, chắc lại phải làm theo cách - mà dân gian gọi là “văn hóa nhồi sọ” - của anh Tổng Trung Nguyên như đã trích ở trên: “Dù sao thì đây cũng là đất của mình, quê hương của mình, đồng bào của mình, nói một lần không được sẽ nói nhiều lần, nếu nói nhiều lần không được thì nói ngàn lần chắc cũng phải tỉnh ra…”.

Ôi nghe mà choáng! Cứ như kiểu triết lý của Ban Tuyên giáo ấy nhỉ? Nếu định bán hàng bằng cách “nói ngàn lần chắc cũng phải tỉnh ra” mà mua, Trung Nguyên nên chăng chuyển bớt người trồng cà phê sang đội quân 900 “dư luận viên” vác loa đi khắp nơi, vừa PR cho cà phê Trung Nguyên, vừa PR cho lòng yêu nước, một công đôi việc.

Mình cứ tưởng anh Vũ là doanh nhân “xịn” thích hành động hơn là nói nhiều (hay nói nhiều cũng là một cách “hành động” nhỉ?). Thất vọng, nhưng không vì thế mà mình không uống Trung Nguyên khi có cơ hội, để “khơi nguồn sáng tạo”. Quan trọng hơn, uống để còn “chứng tỏ lòng yêu nước” của mình chứ!
Bùi Mai Hạnh, từ Úc

 

Copy từ: Nhịp Cầu Thế Giới