CHƯA TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐỜI.

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Việt kiều kêu gọi thủ tướng hành động cho đất nước


Gia Minh, biên tập viên RFA 2014-02-25
000_Hkg9354073-305.jpg
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng (T) chụp tại Phnom Penh hôm 13/1/2014
AFP photo


Cũng như nhiều nhân sĩ- trí thức và một số người dân trong nước, hồi ngày 21 tháng 4 vừa qua, thêm một người Việt sinh sống tại nước ngòai là ông Bằng Phong Đặng Văn Âu từ California lại viết thư cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi hãy hành động để thay đổi đất nước.
Gia Minh có cuộc nói chuyện với ông Đặng Văn Âu về sự việc đó, và trước hết ông Âu cho biết:

Ông Bằng Phong Đặng Văn Âu: Tôi là người ở hải ngoại chắc không làm được gì cho đất nước, chỉ có người trong nước họ mới giải quyết được vấn đề trong nước. Theo như tôi thấy quần chúng Việt Nam chưa đủ sức để làm một cuộc cách mạng như Ukraina, chỉ có người đang cầm quyền thay đổi thì mới giải quyết được vấn đề đất nước. Và theo nhận định của tôi thì ông Nguyễn Tấn Dũng là người có đủ quyền lực để làm. Trước đây tôi có viết cho ông Nguyễn Tấn Dũng hai lá thư với tư cách một người già nói với một người trẻ là ‘chuyện đất nước chỉ có ông mới làm được’. Chứ còn tôi thấy những người khác không có đủ lực để làm.
Nay tôi nghe trong bài nói chuyện đầu năm của ông Nguyễn Tấn Dũng, trong đó ông nói rằng ‘Việt Nam cần phải thay đổi thể chế’. Rồi mới đây vào ngày 19 tháng 2, ông nói thẳng ‘chúng ta, người Việt Nam luôn có truyền thống chống quân xâm lược, và những người chiến đấu để bảo vệ tổ quốc, chúng ta cần phải ghi ơn’.  Qua lời tuyên bố của ông Dũng, tôi tin rằng ông là người muốn bảo vệ chủ quyền của quốc gia, vì vậy tôi viết lá thư vừa rồi. Tức là nếu ông Nguyễn Tấn Dũng làm được chuyện cho đất nước, thì ông sẽ trở thành một vị thánh. Còn nếu ông vẫn giữ đường lối cai trị như hiện giờ, từ trước đến nay, ông sẽ bị nhân dân nguyền rủa.
Quan điểm của tôi là con người sống ở đời tới một thời gian nào cũng chết thôi, tiền bạc, của cải, danh vọng gì rồi cũng hết, điều quan trọng nhất là làm được gì cho dân, cho nước. Chẳng hạn các vị anh hùng dân tộc như ông Trần Hưng Đạo đã mất rồi nhưng uy danh của ông vẫn còn với đất nước, đó là sống mãi trong lòng của người dân Việt Nam.
Gia Minh: Thưa ông, ở Việt Nam Đảng lãnh đạo toàn diện đất nước với Bộ Chính Trị, chứ một mình ông Nguyễn Tấn Dũng có làm được điều gì không?
Ông Bằng Phong Đặng Văn Âu: Theo nhận định của tôi ông Nguyễn Tấn Dũng có thực quyền hơn cả ông Võ Văn Kiệt ngày xưa, tất cả những tướng lĩnh công an đều do ông Nguyễn Tấn Dũng cắt đặt đưa lên. Trong đại hội đảng, ông Nguyễn Phú Trọng, ông Trương Tấn Sang đều muốn hạ bệ ông Dũng, nhưng không hạ bệ được mà rốt cục còn sợ ông Dũng nữa, bằng chứng là chỉ gọi ‘đồng chí X’ chứ không dám nêu đích danh ông Dũng. Như vậy những thế lực kia, ông Dũng coi cũng chẳng ra gì, kể cả Bộ Chính trị.
Trong thư của tôi có nói, nếu ông Dũng bằng lòng làm một cuộc cách mạng cho dân tộc để tên tuổi của ông sống mãi với ngàn năm thì xin ông một là công khai mời tôi về trong nước để chỉ cho ông phương thức để làm, hoặc ông gửi một người thân tín của ông như ông tướng Võ Viết Thanh chẳng hạn, sang gặp tôi, tôi sẽ nói. Bởi vì chuyện đó tôi chỉ nói cho ông Dũng hoặc người thân tín của ông Dũng thôi. Do tôi có cách, và cách của tôi bảo đảm hữu hiệu đến 90%, 10% còn lại nếu ông Dũng không làm được mà chết đi thì uy danh của ông vẫn là một ‘bậc thánh’, vì ông muốn làm cho đất nước chứ không phải làm cho các nhân hay gia đình ông.
Tôi không phải là người tự phụ, nhưng tôi biết cách và nếu tôi có quyền như ông Dũng, tôi sẽ làm; nhưng tôi không thể tiết lộ ra công khai sẽ làm gì.

Không thể nói dối được nữa...

000_Hkg8650210-250.jpg
Người dân Hà Nội trong một lần biểu tình chống Trung Quốc hôm 02/6/2013. AFP photo
Gia Minh: Ngay ở trong nước cũng có những phát biểu tỏ ra nghi ngờ về những phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng, không phải phát biểu mới đây mà cả những phát biểu trước đây. Họ nói mỗi khi ông Nguyễn Tấn Dũng gặp bế tắc trong điều hành đất nước thì lại đưa ra phát biểu mang tính dân tộc để lấy lòng người dân. Trước đây, ông tổng thống VNCH cũng nói ‘đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm’. Vậy mức độ tin tưởng của ông đối với những điều ông Nguyễn Tấn Dũng nói ra sao?
Ông Bằng Phong Đặng Văn Âu: Tôi không phải là người ngây thơ, ngờ nghệch đâu. Bởi vì trong quá khứ ông Dũng đã từng, khi mới lên cầm quyền nói rằng ‘tôi ghét nhất sự dối trá và tôi yêu nhất sự chân thật’; nhưng rồi ông nói một đường, ông làm một nẻo. Rồi ông lại cam kết ‘nếu ông không diệt trừ được tham nhũng, thì ông sẽ từ chức’; rồi ông không diệt trừ được tham nhũng, và cũng không (từ chức).
Thế nhưng ở thời điểm này là thời điểm ông Dũng không thể nói dối được nữa. Bởi vì ông có nói dối ông cũng sẽ không còn tồn tại, ông không thể im lặng được nữa. Vì những cuộc cách mạng như Cách mạng Hoa Lài, Cách mạng Ukraina thì người dân thông qua được thông tin từ các đài phát thanh trên thế giới, mà trong đó RFA đóng một vai trò rất quan trọng, ông không thể bịt mắt nhân dân được nữa. Nhất là truyền thống chống ngoại xâm nằm trong máu của người dân Việt Nam, cho nên ông không thể dùng sức mạnh nào để đàn áp truyền thống đó được. Ngày xưa họ đưa chiêu bài ‘độc lập- tự do- hạnh phúc, chống ngoại xâm’ mà người dân chưa biết nên đã xả thân chiến đấu.
Chẳng hạn họ bảo ‘chống quân xâm lược Mỹ’, nhiều người đã chết vì yêu đất nước Việt Nam chống quân xâm lược. Nhưng thực tế đó không phải là một cuộc chiến tranh giải phóng mà là một cuộc chiến tranh xâm lược miền nam. Vì vậy những chiến sĩ từng chiến đấu trong cuộc đấu tranh xâm lược miền nam, nay họ tỉnh ngộ và họ ca tụng Việt Nam Cộng Hòa. Việt Nam Cộng Hòa đúng là lý tưởng của người tự do, yêu dân chủ. Nhưng thất bại vì vị thế của thế giới, của lòng dân chưa sáng tỏ lúc bấy giờ. Bây giờ hơn lúc nào hết, người dân hiểu được giá trị tự do của Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi không phải dại dột, ngờ nghệch viết điều đó đâu, mà đẩy cho ông Dũng tới chỗ hoặc là thành thánh hoặc là tội đồ của dân tộc.
Gia Minh: Suốt gần 40 năm qua, những người từ phía Việt Nam Cộng Hòa và những người thuộc miền bắc có lúc nói đến chuyện hòa hợp, hòa giải, nhưng dường như chuyện đó ‘bế tắc’. Ông vừa nói rằng có người ở miền bắc thấy được lý tưởng bảo vệ đất nước chân chính của miền nam, ông thấy điều đó có manh nha cho một cái gì tốt đẹp sắp đến?
Ông Bằng Phong Đặng Văn Âu: Chính một cựu chiến binh ( miền bắc) từng tuyên bố trên đài RFA bây giờ họ nhìn ra Việt Nam Cộng Hòa đúng là một chính thể mà toàn dân phải noi theo.
Tôi xin chứng minh Việt Nam Cộng Hòa là một nền dân chủ rất nhân bản: nếu không nhân bản làm sao nhạc của Trịnh Công Sơn phổ biến được! Làm sao nhạc của Phạm Duy nói đến một người chiến binh ‘anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về có khi nằm trong hòm gỗ…’ mà Việt Nam Cộng Hòa vẫn cho phép. Vì vậy mà người lính Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu để bảo vệ giá trị đó, chứ không phải chiến đấu cho Mỹ, ngụy nào hết. Bây giờ rõ ràng họ thấy rồi, như anh Ngụy Văn Thà chiến đấu cho lãnh thổ Hoàng Sa của Việt Nam. Thành thử ra qua thời gian, người cộng sản không thể nào nói rằng họ giải phóng miền Nam mà rõ ràng họ xâm lược một nước Việt nam Cộng Hòa. Cho nên khi người dân thức tỉnh thì nhà cầm quyền không thể nào mãi mãi dối trá được. Bởi vì sức mạnh của quần chúng ghê gớm lắm mà người cầm quyền không ý thức được thì sẽ đi đến cái chết như Ceausescu ở Rumani thôi.

Cần sức mạnh lòng dân

000_Hkg9431242-250.jpg
Các vũ công trong một tiết mục múa kỷ niệm 225 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa hôm 04/2/2014 tại Hà Nội. AFP photo
Gia Minh: Ông đã viết thư cho thủ tướng Việt Nam với mong muốn thúc đẩy thủ tướng Việt Nam phải có hành động. Đó là một cá nhân, dù có quyền lực để có thể tiến hành thay đổi. Ngoài ra còn đối với các tổ chức dân sự và người dân, họ còn phải làm gì nữa để giúp cho đất nước đi đến dân chủ thực sự và phồn vinh?
Ông Bằng Phong Đặng Văn Âu: Anh có thấy rằng đất nước Việt Nam như có một ‘phép lạ’; mặc dù bị cai trị rất hà khắc, mặc dù bị đưa vào một nền giáo dục dối trá; thế mà những người trẻ Việt Nam họ không bị nhồi sọ, họ nhìn thấy đất nước suy vi và họ liều thân để ra đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam. Tôi coi những người như Phương Uyên, như Huỳnh Thục Vy, như Nguyên Kha … không phải là người thường. Họ là ‘thánh’ từ trời cao đưa xuống.
Vậy thì những người đã chiến đấu trong hàng ngũ cộng sản, gọi là ‘lão thành cách mạng’, dù muốn dù không cũng đã góp tay vào một chủ nghĩa xấu, bây giờ họ phải thức tỉnh và không cần phải làm gì ghê gớm. Họ chỉ cần xác minh rằng trong cuộc chiến đấu xưa vì yêu nước, họ bị lừa. Bây giờ họ đừng ca tụng người lừa  họ nữa. Đáng lý ra họ phải hận thù người lừa họ, nay họ vẫn còn ca tụng. Tôi lấy ví dụ cụ Nguyễn Trọng Vĩnh vẫn ca tụng ông Hồ, thì làm cản bước những người trẻ yêu nước.
Người yêu nước cần chính nghĩa ghê gớm lắm, họ yêu tự do. Những người lão thành cách mạng không cần làm gì hết. Nếu già quá không đi nổi thì đi xe lăn ra chỗ mà anh em đòi hỏi tự do. Người còn khỏe mạnh thì chống gậy đi. Những người đó làm một cuộc cách mạng chứ không ai khác hết. Bởi vì họ đang ở vị thế ‘cha, chú’ của những người đang cầm quyền chứ không phải ‘dân đen, dân thường’. Mà ở địa vị ‘cha, chú’ thì phải nói rõ ‘các chú ơi, các anh đây đã đi theo Bác Hồ và sai lầm đường rồi, bây giờ các chú hãy trả lại quyền tự do cho dân đi, đừng bắt nạt dân nữa, bởi vì nước muốn tồn tại phải có sức dân mạnh mới được. Ngày xưa tổ tiên ta đâu cần chủ nghĩa cộng sản gì đâu mà vẫn chống được ngoại xâm’.
Thành thử ra phải nói thẳng, nói thật vì cuộc chiến đấu này là một cuộc chiến đấu giữa sự thật và sự dối trá, cuộc chiến đấu giữa lương tâm và lương tri. Anh không thể nào dùng sự dối trá để bào chữa cho quá khứ đã nhúng tay vào tội ác mà không hối hận, không sám hối. Dân tộc Việt Nam, cả người lính Việt Nam Cộng Hòa cũng sám hối bởi vì trong việc giữ nước đã không giữ nước được, tức mình cũng có tội. Bản thân tôi ngày nào tôi cũng xin Trời- Phật tha tội cho tôi vì đã không giữ được miền nam, mặc dù tôi chỉ là một anh lính quèn thôi, không phải ở địa vị lãnh đạo đất nước. Nhưng tôi cũng cảm thấy tôi là người có tội đối với đất nước. Bây giờ tôi đã 75 tuổi rồi, nhưng vẫn còn lên tiếng cho đến hơi thở cuối cùng cho dân tộc Việt Nam.
Gia Minh: Cám ơn ông về những chia sẻ vừa rồi.

Copy từ: RFA

............

Ai nhân danh cách mạng để bắt giữ pháp luật, tự do và nhân tính?


Đinh Phàm
Trần Đình Sử dịch từ “多维新闻”本文网址
Mặc dù tôi không thích Arendt, bởi vì bà có quan hệ mờ ám, vừa học trò vừa tình nhân với Heidegger, một người có quan hệ với Đức Quốc xã, nhưng ý kiến của bà trong bài Bàn về cách mạng mang đầy tính chất lí tính, sâu sắc khiến tôi đồng tình.
Cái kết luận mà bà rút ra sau khi so sánh hai cuộc cách mạng chẳng qua là: Bạo lực cách mạng chỉ được sử dụng một lần, nếu sau cách mạng mà không xây dựng được một chế độ dân chủ và pháp luật có hiệu lực thì sẽ không có tự do đích thực, sẽ rơi vào một vòng luẩn quẩn của đấu tranh giai cấp bạo lực, của việc tiếp tục cách mạng lặp đi lặp lại không thể đảo ngược.
Arendt khi truy tìm từ nguyên của từ “cách mạng” đã chỉ ra, “Từ cách mạng vốn là một thuật ngữ thiên văn học, nhờ công trình Bàn về sự vận hành thiên thể của Kopernic mà nó ngày càng được coi trọng trong khoa học tự nhiên. Trong thiên văn học nó vẫn bảo lưu ý nghĩa khoa học của thuật ngữ Latinh, chỉ sự vận động có quy luật của các thiên thể…. Giống như một sức mạnh khiến cho các thiên thể vận hành theo một quy luật nhất định [1]. Không có quan niệm nào tương tự như tất cả các hành động khiến mọi người mê hoặc lại đi xa hơn hai chữ cách mạng ấy. Nói một cách khác, các nhà cách mạng cho rằng, trong quá trình tuyên cáo một trật tự cũ phải diệt vong và đón chào sự ra đời một trật tự mới, thì họ chính là nhà đương cục”. Đúng vậy, để đón chào cái thành quả to lớn của cách mạng kia, sự ra đời một thế giới mới, chúng ta đã không ngừng tô vẽ cho cách mạng, đồng thời, che đậy cái mặt tàn nhẫn, phản động của cách mạng.
Tất cả mọi cuộc cách mạng, nếu không có kết quả cuối cùng là một pháp luật và một chế độ, thì cái cách mạng ấy rốt cuộc sẽ trở thành hòn đá ngáng đường tiến lên của lịch sử. Đây chính là điều mà Arendt rút ra sau khi so sánh cuộc cách mạng Pháp và cách mạng Mĩ, rồi phơi bày tất cả các thứ tệ đoan của cuộc cách mạng tháng Mười Nga.
Nhìn lại một trăm năm “cách mạng” Trung Quốc, đúng như bà Arendt có nói, “Nhìn từ phương diện lịch sử, chăm chú vào khoảnh khắc cách mạng thì thấy, đại cách mạng đã biến chất thành chiến tranh, biến chất thành nội chiến và ngoại chiến, quyền lợi của nhân dân vừa mới giành được, chưa kịp xây dựng chính thức, liền biến chất thành tao loạn liên miên”. Trung Quốc 20 năm đầu thế kỉ XX đã trải qua các cuộc chiến tranh quân phiệt, chiến tranh kháng Nhật rồi nội chiến Quốc Cộng, tưởng rằng giành được những năm tháng hòa bình, nhưng vị chúa tể của thế giới mới liền tiến hành cuộc thanh toán dị đoan, đó chính là cái phương thức tư duy của kẻ giành chiến thắng trong cách mạng Pháp mà Arendt đã tổng kết, “bởi vì, tiếp theo là kẻ hành động vì cách mạng tự cho phép mình muốn làm gì thì làm,” cho nên, “Làm thế nào để đề phòng kẻ cùng khổ ngày hôm qua, hôm nay thành cự phú liền phát huy các quy tắc hành động của mình, đem áp đặt chúng cho chính thể mới, các mối lo này của hôm nay chưa từng có từ thế kỉ XVIII.” Giải thích theo lí thuyết của Arendt, mấu chốt để phát động một cuộc “cách mạng” nhằm tiến tới xây dựng một nền dân chủ và pháp chế thì phải sử dụng phương thức lập quốc theo cuộc “cách mạng” pháp lí kiểu Mĩ, chư không đi theo con đường chỉ dựa vào cảm xúc và tình cảm. “Phương hướng của cuộc cách mạng Mĩ trước sau đều nhằm dốc sức xây dựng một nước tự do, một chế độ lâu dài. Đối với người hành động vì mục tiêu đó, không cho phép bất cứ hành động nào ngoài phạm vi pháp luật dân sự được thực hiện. Vì sự khổ đau nhất thời, phương hướng của cuộc đại cách mạng Pháp ngay từ đầu đã xa rời quá trình lập quốc, nó được quyết định bởi tính tất yếu, chứ không phải bắt nguồn từ nhu cầu bức thiết giải thoát khỏi chính trị bạo lực, nó bị thúc đẩy bởi nổi thống khổ quá ư nặng nề của nhân dân, và sự đồng cảm với nổi thống khổ vô bờ bến ấy. Ở đây, cái tính chất tùy tiện vô phép tắc vốn bắt nguồn từ tình cảm trong tâm hồn, tính vô hạn của tình cảm xúi giục thúc đẩy, đã phóng thích cả chuỗi bạo lực liên tục.” Câu nói này mới sâu sắc biết bao!
Nước Trung Quốc thế kỉ XX đã đi qua trong cuộc chiến tranh của phong trào văn hóa “ sau cách mạng” và “hậu cách mạng”, từ sự kiện Phúc Điền [2], chỉnh phong Diên An, nội chiến, lại trấn áp phản cách mạng, chống phái hữu rồi cách mạng văn hóa, không có sự kiện nào mà không phải là diễn ra dưới quyền lực tập trung của cá nhân, không đếm xỉa đến nỗi thống khổ của nhân dân, quyền lực của nhân dân bị biến thành kẻ hành động vì cách mạng, biến thành tiếng kèn chiến đấu tiếp tục “cách mạng”. Loại “cách mạng” này rõ ràng đã phải trả giá bằng sự hy sinh nhân tính và hy sinh tự do. Do đó lí luận “Cách mạng không phải là được mời đi dự tiệc” của lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông đã trở thành chân lí tối cao và danh ngôn chí lí, mà đến nay vẫn còn thấm sâu trong quan niệm của bao người chấp chính mà hoàn toàn không tự giác.
Cái quan niệm hạt nhân mà Arendt muốn bày tỏ qua sự so sánh hai cuộc cách mang – cách mạng Pháp và cách mạng Mĩ thật là rõ rệt – cuộc cách mạng đại chúng chỉ dựa vào lòng đồng tình và thương xót đối với người nghèo khổ là không đáng tin cậy, đồng thời cũng không cứu được người nghèo khổ, bởi vì cái “cách mạng” này không lấy nhân tính làm cơ sở: “Từ ngày có cuộc đại cách mạng Pháp cũng chính là ngày mà tính vô hạn trong tình cảm của các nhà cách mạng đã khiến cho họ vô cảm trước hiện thực, vô cảm đối với số phận của những cá nhân. Tất cả những điều đó thật khó tin. Vì các “nguyên tắc” của mình, vì “tiến trình lịch sử”, vì “sự nghiệp cách mạng”, các nhà cách mạng sẵn sàng hy sinh mọi cá nhân mà không hề hối tiếc. Tình trạng vô cảm đối với hiện thực tràn đầy tình cảm này cũng đã thể hiện khá rõ rệt trong hành động của bản thân Rousseau, trong biểu hiện thiếu trách nhiệm, tùy tiện lặp đi lặp lại của ông, nhưng chỉ khi Robespierre đưa nó vào trong cuộc xung đột phe phái của cuộc đại cách mạng Pháp nó mới trở thành một nhân tố chính trị quan trọng đáng kể.” Rõ ràng Arendt không hề khẳng định hoàn toàn vai trò của Rousseau và Robespierre trong cuộc đại cách mạng và chủ nghĩa khai sáng, ngược lại, bà phủ định những tệ hại mà thứ “cách mạng” này đem lại cho xã hội, cho các cuộc “cách mạng” kế tục sau đó. Nói thật lòng, đối với nhà khai sáng vĩ đại Rousseau tôi không hề muốn phủ nhận lí luận và tư tưởng khai sáng do ông tạo nên, nhưng trong việc lựa chọn hai chế độ xây dựng quốc gia thì tôi hình như lại thiên về phía Arendt, bởi vì lịch sử đã cho chúng ta biết, “khai sáng” một khi đã bị “cách mạng” lợi dụng, thì rất có thể nảy sinh “tha hóa”, từ đó mà phản bội nhân tính và tự do.
Lời dự báo sau cùng của Robespierre đã chứng minh nguyên nhân thất bại của chủ nghĩa khai sáng: “Chúng ta sẽ chết đi mà không để lại dấu vết gì, bởi vì trong dòng sông lịch sử của nhân loại, chúng ta đã bỏ lỡ thời cơ thành lập một quốc gia tự do.” Cái nghịch lí này chứng minh một sự thật lịch sử rằng công cuộc khai sáng sau khi bị cuộc cách mạng mù quáng bắt cóc đưa lên cỗ xe chiến tranh đã gây nên biết bao hậu quả thảm họa.
Khi người vô sản mất đi xiềng xích, trở thành nguyên động lực của cách mạng, cách mạng dựa vào sức mạnh tình cảm mà giành chính quyền, nhưng khi chiếc gông cùm của nghèo khổ ngày xưa đã tháo ra, phải chăng người vô sản lại không khoác lên mình một chiếc gông cùm mới? Nếu nói Mác đã kế thừa ý tưởng cách mạng của Roberspierre, phát triển thành học thuyết đấu tranh giai cấp, thì Lenin trong lúc vội vàng đã quay lại con đường cũ, thì Stalin đã tạo ra một mô hình cách mạng đấu tranh giai cấp cực đoan nhất, mà Trung Quốc trong những năm 50 – 70 lại chạy theo mô hình cực đoan ấy của Stalin, lại tạo ra vô vàn hậu quả thảm họa. Trong cái chuỗi dây chuyền thế giới “vô sản toàn thế giới liện hiệp lại”, kẻ chịu thảm họa sâu nặng nhất là nhân dân Liên Xô và nhân dân Trung Quốc. Đương nhiên thảm họa nặng nể nhất là nhân dân Cămpuchia trong cuộc diệt chủng của bọn Khơme đỏ của Cămpuchia dân chủ dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ cách mạng Polpot, nó chứng minh cho hậu quả về mặt luân lí của “cách mạng”.
Trong giới tư tưởng Âu Mĩ các khái niệm “nhân dân” và “đại chúng” là hoàn toàn khác nhau. Nhân dân là hình ảnh của dân chủ, còn đại chúng là danh từ chỉ bọn người ô hợp. Cho nên Arendt nói: “Về mặt lí luận, điều tai hại nhất là đem đánh đồng nhân dân với đại chúng.” Ở đây nhân dân là những “công dân” có “giác ngộ”, là người dân tự do có quan điểm độc lập; còn “đại chúng” là một đám người nô lệ tinh thần mông muội, là đám AQ bị chấn thương tinh thần dưới ngòi bút của Lỗ Tấn, là bọn lưu manh dễ bị mê hoặc bởi chiến lợi phẩm của cuộc cách mạng – Hitler đã lợi dụng tình cảm của đại chúng mà dựng nên đảng Quốc xã, Stalin cũng lợi dụng tình cảm đại chúng mà lập nên “Tcheka”, còn “Hồng vệ binh” của Trung Quốc thì vẫn tồn tại trong huyết mạch của rất nhiều người, chỉ cần có người vung tay hô to một khẩu hiệu, thì sẽ có vô vàn “cánh tay đỏ” vung lên như rừng, và tiếng hô “Ura!”, “Vạn tuế!” vang động khắp nơi.
Đ. P.
Ghi chú: Đinh Phàm, đảng viên cộng sản Trung Quốc, hội viên hội nhà văn Trung Quốc, Giáo sư đại học Nam Kinh, Phó Chủ tịch Hội Nghiên cứu Văn học Trung Quốc, Chủ tịch Hội Phê bình Văn học Giang Tô, Phó Tổng biên tập tạp chí Chung Sơn.
[1] Tiếng Latinh, cách mạng là revolvere, nghĩa là quay vong, chuyển động xoay vòng. ND.
[2] Sự kiện Phúc Điền: Đây là sự kiện do Mao Trạch Đông tạo ra để thanh trừng nội bộ vào tháng 12 năm 1930, tại Phúc Điền, tỉnh Giang Tây, giết 120 người thuộc quân đoàn Hồng quân số 20, những người liên lụy bị giết lên đến 70000 người. Năm 1956, Mao đã thừa nhận giết nhầm người, nhưng đến năm 1989 dưới thời Hồ Diệu Bang, Dương Thượng Côn, những nạn nhân mới được tuyên bố vô tội. Đây là vụ thanh trừng đẫm máu đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc. ND.