CHƯA TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐỜI.

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

CHỦ TỊCH NƯỚC TRƯƠNG TẤN SANG KHẲNG ĐỊNH HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CỦA CHÚNG TA “KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT”


CHỦ TỊCH NƯỚC TRƯƠNG TẤN SANG KHẲNG ĐỊNH HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CỦA CHÚNG TA “KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT”

Trần Mạnh Hảo
15-02-203

Sự thật sẽ giải thoát anh em
(Lời Kinh Thánh)


Trên báo Sài Gòn giải phóng online ngày 13-02-2013, trong bài : “Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Vũ khí của chúng ta là dám nói lên sự thật” có đoạn viết như sau:
“Khi nghe bà Phan Thị Tươi giới thiệu chồng mình – ông Hoàng Thái Lai, đã nghỉ hưu nhiều năm nay, hiện là Bí thư Chi bộ khu phố 2, phường Thảo Điền (quận 2), Chủ tịch nước hỏi: “Đồng chí có gửi gắm gì không?”. “Tôi mong mỗi cán bộ lãnh đạo hãy làm đúng những gì đã nói”. “Đúng, làm đúng những gì đã nói đang là thách thức rất lớn đối với chúng ta hiện nay” – Chủ tịch nước chia sẻ.
“Sau khi lắng nghe những phát biểu nói lên kỳ vọng của các thành viên trong gia đình GS-TS Phan Thị Tươi, Chủ tịch nước nói: “Từ trước đến nay, chúng ta có “cái bệnh” rất lớn là không dám nói lên sự thật. Hôm nay nghe đồng chí bí thư chi bộ khu phố nói, tôi thấy đấy là sự thật, một sự thật ở ngay trong dân. Chắc chắn người dân đã gửi gắm rất nhiều vào đồng chí bí thư, nên hôm nay tôi mới nghe được gửi gắm của dân mong muốn mỗi cán bộ, đảng viên phải làm đúng những gì đã nói. Đây là tiếng nói của lòng dân, Đảng hiểu dân nói mới là thước đo niềm tin chính xác nhất. Nhiều cán bộ không muốn nghe sự thật và không dũng cảm nói lên sự thật là vì lợi ích…” ( hết trích – chữ in đậm do TMH nhấn mạnh).
Có lẽ, từ ngày Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) nhảy ra cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim ngày 19-8-1945, chưa từng có một vị lãnh tụ nào dũng cảm đứng ra nói với toàn thể đồng bào trong ngoài nước về CÁI BỆNH RẤT LỚN của những người cộng sản là CĂN BỆNH DỐI TRÁ (tức: “ không dám nói lên sự thật”) như ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong dịp tết Quý Tị này như vừa dẫn: “CHÚNG TA CÓ “CÁI BỆNH RẤT LỚN LÀ KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT”
Xin xem định nghĩa đại từ CHÚNG TA trong từ điển: “Chúng ta: Bản thân mình cùng với người đối thoại: Chúng ta đi đâu bây giờ, vì tương lai con em chúng ta” (Đại từ điển tiếng Việt –NXB Văn hóa – Thông tin- 1999, trang 400)
Như vậy, hàm nghĩa từ CHÚNG TA nơi câu nói của chủ tịch nước Trương Tấn Sang bao gồm chính ông và vợ chồng người đảng viên ông đến thăm, nói rộng ra là chính chủ tịch nước và tất cả mọi người Việt Nam đọc báo đều cùng mắc cái  bệnh rất lớn là bệnh dối trá này. Nhưng đa số nhân dân đâu có cơ hội để mắc bệnh này, vì họ, tức nhân dân, tức người dân thường, tức tư nhân không có quyền ngôn luận, tức không có quyền ra báo.
Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam, người tự xưng là đày tớ của nhân dân mới có quyền phát ngôn trên 700 tờ báo nói, báo viết, báo hình mà thôi. Cho nên từ “chúng ta” trong nội hàm của câu nói trứ danh này của ông Trương Tấn Sang chính là nhằm nói rằng: hệ thống cầm quyền, hệ thống chính trị tức Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang mắc CÁI BỆNH RẤT LỚN LÀ KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT. Mà không dám nói lên sự thật chính là “cái bệnh rất lớn” là nói dối vậy.
Nếu câu nói này (chúng ta có cái bệnh rất lớn là không dám nói lên sự thật) phát ra từ một người bất đồng chính kiến thì chắc sẽ bị công an bắt giam vì điều 88: tuyên truyền nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhưng khi câu nói RẤT CHÍNH XÁC này phát ra từ miệng vị chủ tịch nước Trương Tấn Sang lại là một vấn đề không nhỏ, không phải nói để chơi. Đó là nhận thức quan trọng nhất mà một lãnh tụ Đảng Cộng sản Việt Nam – ông Trương Tấn Sang – đã dũng cảm nói lên sự thật rất đáng buồn rằng: hệ thống cầm quyền của những người cộng sản là một hệ thống thiếu trung thực, lấy sự dối trá làm bản chất.
Ai ai trong thế kỷ thứ 21 này cũng đều biết chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của C.Marx và F. Engel bắt nguồn từ chủ nghĩa xã hội không tưởng của các nhà triết học tiền Mác-xít: Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen… là những hệ thống xã hội không tưởng, ảo tưởng, không có thật, bịa đặt… Một xã hội xã hội chủ nghĩa tiến tới thiên đường cộng sản là một xã hội phi lý, phi nhân – nơi chỉ có cái thiện mà không có cái ác, chỉ có cái tốt mà không có cái xấu, chỉ có cái thật mà không có cái giả, tức là một xã hội phi biện chứng. Trong xã hội giả tưởng đó, người ta sống theo nguyên tắc vô cùng phi lý: làm theo năng lực (có  hạn) hưởng theo nhu cầu (vô hạn). Trong xã hội bịa đặt phi biện chứng đó, nhà nước bị triệt tiêu, biên giới Việt Nam và Trung Hoa bị xóa bỏ (tất nhiên Việt Nam sẽ thành quận huyện của Tàu, đó là xã hội cộng sản hay sao?). Ở Cái xã hội bịa đặt khủng khiếp có tên là xã hội chủ nghĩa, xã hội cộng sản ấy, quyền tư hữu bị xóa sổ, cá nhân bị xóa sổ, nhân tính bị xóa sổ, gia đình bị xóa sổ, quốc gia bị xóa sổ, tôn giáo bị xóa sổ, cái riêng bị xóa sổ, đất nước bị xóa sổ, dân tộc bị xóa sổ…
Liên Xô sau 74 năm đi tìm cái xã hội chủ nghĩa không tưởng mà tìm mãi không thấy, chỉ thấy cả đất nước rộng bằng một phần sáu địa cầu biến thành trại tập trung với máu và nước mắt, với gần 100 triệu người bị giết hại vì lý thuyết đấu tranh giai cấp duy ác Mác – Lê…  Nay Liên Xô đã quay lại con đường tư bản chủ nghĩa để đi cùng đường với nhân loại…
Trung Quốc đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội dã man từ năm 1978 để xây dựng xã hội theo mô hình tư bản, mô hình thị trường; nhưng vẫn mạo danh xã hội chủ nghĩa để đỡ bẽ mặt vì Trần Độc Tú, Cù Thu Bạch, Mao Trạch Đông đã sai lầm vô hạn khi áp dụng chủ thuyết duy ác Mác-Lê vào Trung Quốc. Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc cuối năm 2012 đã không còn nhắc đến Mác-Lê-Mao… Đảng Cộng sản Pháp trong đợt đại hội cách đây mấy ngày, đã good bye cờ búa liềm là cờ của nước Liên Xô trước đây…
Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo từ năm 1986 đã chôn chủ nghĩa xã hội để xây dựng chế độ tư bản nhưng vẫn còn giữ cái đuôi dối trá rất vô nghĩa là “ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”…
Mùa tết năm nay, qua lời thú nhận của chủ tịch nước Trương Tấn Sang về hê thống xã hội cộng sản của ông và các ông vốn là một hệ thống dối trá “KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT” chính là cuộc thay đổi tư duy đáng trân trọng của giới lãnh đạo Việt Nam…
Khi cả thế giới đều biết chủ nghĩa xã hội kiểu quốc tế ba của Mác-Lê là một chủ nghĩa ảo, một học thuyết bịa đặt , dối trá từng giết hại hàng trăm triệu người trên thế giới thì khi đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta lại phải mang cả khối dối trá trên mình, liệu có trung thực, có đúng đắn hay không: “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”. Chủ nghĩa xã hội = sự không có thật, chẳng lẽ quốc hiệu của ta lại ra thế này ư: CỘNG HÒA KHÔNG CÓ THẬT VIỆT NAM”?
Từ sự nhận thức trên mang tính cách mạng của chủ tịch nước Trương Tấn Sang, chúng tôi hy vọng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ nhanh chóng từ bỏ những khái niệm dối trá, chủ nghĩa dối trá để trở về cùng đường với dân tộc và nhân loại.
Chúng tôi xin trích hai đoạn ngắn trong bài viết của mình năm 2010: “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” (là tham luận của TMH trong đại hội nhà văn Việt Nam, nhưng không được phép đọc, đã post lên mạng trước đại hội) làm phần kết của bài viết này:
Nếu Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam thử một lần hợp tác với đất nước, với dân tộc Việt Nam mở HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG CHỐNG GIẶC NÓI DỐI để tìm ra con đường cứu nguy dân tộc đang trên đà suy vong, thì công này của quý vị rất lớn. Ông cha chúng ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh… để bảo tồn đất nước. Tất cả các thứ giặc trên cộng lại cũng không ghê gớm bằng giặc nói dối đang tàn phá Tổ quốc ta, giống nòi ta. Lần này, nếu nhân dân ta không vùng lên đáng tan BỌN GIẶC CÓ TÊN LÀ DỐI TRÁ, chắc chắn đất nước ta sẽ bị kẻ thù phương Bắc nuốt chửng, như mấy nghìn năm trước chúng đã nuốt toàn bộ các dân tộc Bách Việt từng định cư lâu dài phía nam sông Dương Tử….
….Một kẻ nói dối, một dân tộc nói dối “lộng giả thành chân”, là một kẻ, một dân tộc không có tự do, không có độc lập, không có dân chủ, không có chân lý và lẽ phải… Khi một kẻ, một dân tộc phải núp vào sự dối trá để tồn tại, kẻ đó, dân tộc đó là một kẻ yếu, một dân tộc yếu đang trên đường suy vong. Chỉ có kẻ mạnh, kẻ tự tin, kẻ có liêm sỉ, có đạo đức mới không sợ sự thật, dù là sự thật đau đớn nhất, khủng khiếp nhất mà thôi”.
Từ nhận thức rằng hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là một hệ thống “KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đi một bước cách mạng đột phá, đưa Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp cận dần sự thật để dám từ bỏ cái chủ nghĩa dối trá là chủ nghĩa xã hội. Chúng tôi xin chép lại lời của đại văn hào Pháp V. Hugo để tặng ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, những người đã dám dũng cảm cứu nguy dân tộc bằng cách chôn chủ nghĩa xã hội từ năm 1976 (chủ nghĩa Marx thực chất là một chủ thuyết về kinh tế) để xây dựng kinh tế thị trường- kinh tế tư bản : “CÁCH MẠNG LÀ CUỘC TRỞ VỀ TỪ CÁI GIẢ ĐẾN CÁI THẬT”.
Sài Gòn 15-02-2013
Trần Mạnh Hảo



Copy từ: Anh Ba Sàm

CƯỠNG CHẾ ĐỂ CÓ ĐẤT LÀM CHÙA ?


Đây là một bài tổng hợp một số tư liệu về chùa Bái Đính do tiến sĩ sử và khảo cổ Nguyễn Hồng Kiên đăng trên facebook cá nhân. Nó hơi dài, nhưng xin bà con chịu khó đọc, vì có khá nhiều tư liệu bổ ích, giúp ta biết thêm phần nào về việc này.

" RẤT MONG BÀ CON HIỂU ĐÚNG RẰNG:
CHỖ ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ CHÙA, LÀ NƠI THỜ PHẬT, MÀ LÀ ĐIỂM DU LỊCH, MỘT NƠI KINH DOANH."




ENTRY NÀY NHÀ CHÁU VIẾT TỪ NGÀY 10/8/2010 trên Gocsayblog, (đã bị tin tặc phá mất).
May là còn tìm thấy trên mạng, ở:
- http://nhobethoi.multiply.com/journal/item/302/302?&show_interstitial=1&u=%2Fjournal%2Fitem
- http://tranhung09.blogspot.com/2010/08/cuong-che-e-co-at-lam-chua.html
NHÀ CHÁU ĐƯA LẠI, VÌ BÀ CON ĐANG XÔN XAO ĐI LỄ Ở CÁI GỌI LÀ CHÙA BÁI ĐÍNH.  
VÀ CHỦ YẾU CHI TIẾT THÊM VÀI HÌNH ẢNH VỀ CÁC TRÍCH DẪN, NGUỒN . 

Lúc 15g46 ngày 08/08/2010, báo Nhân Dân điện tử bài "Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tỉnh Ninh Bình giải phóng mặt bằng khu vực chùa Bái Đính" :
NDĐT- Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Nguyễn Xuân Phúc vừa văn bản số 4873/VPCP-NC truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu tỉnh Ninh Bình giải phóng mặt bằng khu vực chùa Bái Đính.Công văn ghi rõ: Xét báo cáo số 127/CV/HĐTS-VP1 của Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam về việc giải phóng mặt bằng khu vực chùa Bái Đính phục vụ Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội và Hội nghị thượng đỉnh Phật giáo thế giới lần thứ VI tại Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu UBND tỉnh Ninh Bình thực hiện theo đúng pháp luật, bàn giao mặt bằng trong tháng 8 năm 2010 để kịp thời phục vụ Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và Hội nghị thượng đỉnh Phật giáo thế giới lần thứ VI.

Theo ông Phan Tiến Dũng – Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Ninh Bình, Khu núi chùa Bái Đính là một trong các khu chức năng thuộc khu du lịch sinh thái Tràng An đã được chính phủ cho phép đầu tư tại văn bản số 365/CP-KTTH ngày 22-3-2004 và đã được UBND tỉnh Ninh Bình phê duyệt quy hoạch tổng thể tại quyết định số 2570/QĐ-UBND ngày 18-11-2005 nhằm bảo tồn, tôn tạo phát huy giá trị văn hoá, di tích lịch sử cố đô Hoa Lư, để tiến tới đề nghị UNESCO công nhận khu cố đô Hoa Lư là di sản văn hoá thiên nhiên thế giới.

Tại quyết định số 62/QĐ-UBND ngày 10-1-2008 của UBND tỉnh Ninh Bình đã quy hoạch tổng thể với 539 ha bao gồm khu chùa Bái Đính cổ, khu chùa Bái Đính mới, khu công viên văn hoá và học viện phật giáo, khu đón tiếp và công viên cảnh quan, đường giao thông và bãi đố xe, khu hồ Đàm thị, hồ phóng sinh,v.v… Trong  số hơn bốn nghìn hộ nông dân nằm trong khu vực dự án đã được chuyển đến nơi ở mới có tiện nghi sinh hoạt khá hơn nhiều so với nơi ở cũ, các gia đình đã ổn định cuộc sống.  
Đ.T

MỚI CÓ 3 NĂM, LINK GỐC CỦA BÀI TRÊN BÁO NHÂN DÂN ĐIỆN TỬ http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=39&sub=127&article=180846 ĐÃ 'DIED'.
MAY CÒN LƯU Ở http://www.baomoi.com/Thu-tuong-Chinh-phu-yeu-cau-tinh-Ninh-Binh-giai-phong-mat-bang-khu-vuc-chua-Bai-Dinh/122/4676508.epi)


Nhưng hóa ra đây là CHÙA NHÀ NƯỚC xây a?

KHÔNG NHẼ Việt Nam đang quay lại coi Phật giáo là Quốc giáo như cách đây 1.000 năm?

Theo sử sách thì thời bấy giờ, chùa do Vua xây, được gọi là "Đại danh lam".
Nhưng cái gọi là “chùa Bái Đính mới ” chẳng đáng được thế, dù đã lập rất nhiều KỶ LỤC.

Kiến trúc ba tầng mái  là thế  giới của người chết. Nhưng “chùa Bái Đính mới” có cái gọi là Tam quan ba tầng mái ở ngoài, khiến người ta đến với cái chết trước khi đến với Phật. Điều đó không chấp nhận được – PGS-TS Trần Lâm Biền.

Đây là nguyên văn tin "Sẽ thực hiện biện pháp cần thiết để bàn giao toàn bộ mặt bằng Khu tâm linh chùa Bái Đính trong tháng 8" trên báo Kinh tế Nông thôn:

06/08/2010 - 01:07:00
Theo báo cáo của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình, đến hết tháng 7/2010, Dự án Khu tâm linh núi chùa Bái Đính đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng các tuyến đường giao thông, hệ thống điện, khu tái định cư, hệ thống cây xanh… Trong khu vực chùa đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng điện Tam thế, điện Pháp chủ, điện Quan âm… và các hạng mục công trình phụ trợ khác. Kết quả GPMB tính đến tháng 7/2010, tỉnh đã ban hành 9 Quyết định thu hồi đất với tổng diện tích đất thu hồi là gần 400 ha, với trên 3.800 lượt hộ, tập thể và cá nhân có liên quan. Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ là 139 tỷ đồng.
ẢNH: Ông Phan Tiến Dũng, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Ninh Bình khẳng định sẽ không để các hộ dân thiệt thòi về quyền lợi.

Chủ tịch UBND huyện Gia Viễn, ông Trương Cộng Hòa cho biết: “Chỉ còn một vướng mắc dẫn tới chưa thể bàn giao toàn bộ mặt bằng cho chủ đầu tư là hộ ông Nguyễn Văn Phi chưa đồng ý với các phương án đền bù mà Hội đồng giải phóng mặt bằng đưa ra. Mặc dù cả hệ thống chính trị huyện Gia Viễn đã vào cuộc thuyết phục, tuyên truyền vận động và tạo mọi điều kiện tốt nhất, đảm bảo quyền lợi của gia đình ông Phi không bị thiệt thòi”.
Các cơ quan chức năng tỉnh Ninh Bình khẳng định: Mặc dù Hội đồng giải phóng mặt bằng có thiếu sót trong việc “chưa áp dụng mức hỗ trợ đất vườn xen kẽ trong khu dân cư, nhưng sai sót đó đã được khắc phục”. Về quy trình, thủ tục, thẩm quyền thực hiện chế độ chính sách đền bù, bồi thường, tái định cư cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn Phi về cơ bản đảm bảo đúng quy định.
Trước đó, ngày 13/7/2010, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Công văn số 4873/VPCP – NC gửi UBND tỉnh Ninh Bình, truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ: “Yêu cầu UBND tỉnh Ninh Bình thực hiện đúng theo pháp luật, bàn giao mặt bằng trong tháng 8 năm 2010 để kịp thời phục vụ Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội và Hội nghị thượng đỉnh Phật giáo thế giới lần thứ VI”.
ẢNH: Toàn cảnh buổi Họp báo sáng nay 06/8/2010.
Tại buổi họp báo, ông Đinh Trung Phụng, Ủy viên Ban thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình ghi nhận những thông tin phản ánh của báo Kinh tế nông thôn trong suốt thời gian qua đã giúp cho các cơ quan liên quan xem lại cách triển khai và có giải pháp xử lý đảm bảo không bỏ sót quyền lợi hợp pháp của người dân. Hội đồng giải phóng mặt bằng cần rút kinh nghiệm trong công tác tuyên truyền thuyết phục người dân. Đặc biệt, cần phối hợp thông tin với báo chí để người dân hiểu rõ, hiểu đúng, tạo sự đồng thuận trong dư luận.
Kết luận buổi họp báo, ông Phan Tiến Dũng, Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Ninh Bình khẳng định: “Dự án Khu tâm linh núi chùa Bái Đính không chỉ của riêng Ninh Bình mà có ý nghĩa to lớn với cả đất nước. Trong khi triển khai giải phóng mặt bằng và đền bù không tránh khỏi những thiếu sót do nhiều nguyên nhân. Song những thiếu sót đã được khắc phục kịp thời không để ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của người dân. Đối với trường hợp hộ ông Nguyễn Văn Phi, từ ngày 06/8/2010, UBND tỉnh sẽ không giải quyết đơn thư, kiến nghị của hộ ông Phi”.


Bà Nguyễn Thị Thanh - Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban dân vận Tỉnh ủy Ninh Bình cho biết, công tác tuyên truyền, thuyết phục đã thực hiện tốt, hơn 3.800 hộ dân đã tự giác nhận đền bù và bàn giao mặt bằng để thi công kịp tiến độ đề ra. Thời gian tới, công tác tuyên truyền vẫn cần phải được duy trì ngay cả sau khi các hộ đã nhận tiền đền bù và bàn giao mặt bằng.Đức Thành
Cụ thể thế nào thật khó biết.
Chỉ biết rằng đến mức PHẢI HỌP BÁO thì chuyện chắc chắn là... CÓ CHUYỆN.

TUY NHIÊN, CHỈ LIỆT KÊ LẠI theo nhandan.com.vn (17:51 ngày 04/7/2009- http://www.baomoi.com/Xu-ly-nghiem-nhung-truong-hop-xay-dung-trai-phep-tai-khu-du-lich-Bai-Dinh/148/2905842.epi) và Kinh tế Nông thôn (http://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/bandoc/2010/8/24350.html) thì đã thấy việc quy hoạch ở đây là CHƯA TỪNG TRÊN KHẮP CÕI TA BÀ NÀY :
– Ngày 31/3/2006 UBND tỉnh Ninh Bình quyết định số 675/QĐ-UBND về việc thu hồi đất, giao đất để giải phóng mặt bằng xây dựng khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính tại xã Gia Sinh (huyện Gia Viễn- Ninh Bình) với diện tích 18,8 ha. Trên diện tích đất thu hồi không hề hộ dân nào phải di dời chỗ ở bởi nơi đây là đất rừng.
– Ngày 03/4/2006, UBND tỉnh lại Quyết định số 697/QĐ-UBND về việc thu hồi 177.353m2 đất thuộc xã Gia Sinh, trong đó 106.879m2 đất của 251 hộ gia đình và 65.474m2 đất do UBND xã Gia Sinh quản lý. 
– Ngày 11/9/2006, UBND tỉnh Ninh Bình lại ra quyết định số 1879/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch chi tiết khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính lên tới 390 ha.
- Ngày 07/9/2007, UBND tỉnh Ninh Bình lại tiếp tục ra Quyết định số 2105/QĐ-UBND phê duyệt mở rộng thêm 91,74ha, tức là tổng diện tích quy hoạch lên đến 481,74ha.
– Ngày 10/01/2008, UBND tỉnh lại ra Quyết định số 62/QĐ-UBND với nội dung tiếp tục mở rộng diện tích thêm 57,46ha và tổng diện tích quy hoạch lúc này lên đến 539,2ha.

Từ 18,8ha năm 2006, chỉ 2 năm sau, khu quy hoạch PHÌNH LÊN đến 539,2ha (TỨC LÀ GẤP GẦN 29 LẦN). Mô Phật !



Nói về việc điều chỉnh quy hoạch, Phó chủ tịch UBND xã Gia Sinh Ngô Xuân Hưởng than thở: “Việc điều chỉnh quy hoạch cứ thay đổi liên tục đã gây nhiều khó khăn cho chính quyền xã và tạo tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân”.Đến lúc này người dân vẫn thắc mắc, liệu UBND tỉnh đã dừng quy hoạch tại đây hay trong nay mai sẽ tiếp tục điều chỉnh và người dân tiếp tục phải chạy? Sự phập phù trong quy hoạch khu di tích chùa Bái Đính đã khiến hàng trăm hộ dân xã Gia Sinh phải sống trong cảnh bất an... ("Xây dựng khu chùa Bái Đính, Ninh Bình: Nhập nhằng chuyện quy hoạch"- http://www.kinhtenongthon.com.vn/printContent.aspx?ID=18630)
Từ chỗ chỉ lấy đất rừng đến chỗ phải di dân.
KHÔNG CHỈ THẾ, nhiều địa điểm được quy hoạch làm khu tái định cư (cho dân vùng bị ảnh hưởng của trận lụt lịch sử năm 1985 làm vỡ đê sông Hoàng Long), nhưng rồi sau nhiều lần điều chỉnh quy hoạch, khu tái định cư lại nằm trong phần diện tích quy hoạch cho khu chùa Bái Đính mới.
Chưa an cư đã phải... chạy
Theo đơn đề nghị gửi Báo Kinh tế nông thôn của nhân dân thôn Thuận Phong, xã Gia Sinh (Gia Viễn), thôn Thuận Phong trước đây là thôn An Thái, xã Gia Tiến (Gia Viễn), vốn nằm ngoài đê sông Hoàng Long. Năm 1985, trận lụt lịch sử làm vỡ đê sông Hoàng Long gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Năm 1987, người dân thôn An Thái di cư về khu vực thôn Thuận Phong. ông Phạm Văn Thắng, người trong thôn nhớ lại: “Khi ấy vì lợi ích chung trong công tác phòng chống lũ lụt mà chúng tôi tuân thủ nghiêm chỉnh lệnh di cư. Khi lên bờ chúng tôi chỉ được hỗ trợ về đất ở nên gặp rất nhiều khó khăn”.
Đầu năm 2006, UBND tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 675/QĐ-UBND “Về việc thu hồi đất, giao đất để bồi thường giải phóng mặt bằng xây dựng khu tâm linh chùa Bái Đính, tại xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn”. Đến năm 2007, UBND tỉnh lại tiếp tục duyệt quy hoạch xây dựng chùa Bái Đính và hình thành Khu du lịch sinh thái Tràng An. Tuy chưa nhận được văn bản thông báo chính thức nào nhưng khi nghe “phong thanh” nằm trong diện tích quy hoạch khiến người dân Thuận Phong không khỏi hoang mang, lo lắng. ông Nguyễn Xuân Sinh (thôn Thuận Phong), bức xúc: “Chúng tôi di cư lên đây phải vượt qua rất nhiều khó khăn, cuộc sống mới dần ổn định. Thế mà, đùng một cái chúng tôi lại phải di cư đi nơi khác”.
Điều làm người dân lo lắng hiện nay là, UBND tỉnh đã có quyết định thu hồi, giao đất bồi thường từ tháng 3/2006, nhưng đến nay đã hơn 3 năm trôi qua, người dân thôn Thuận Phong vẫn chưa biết mình đi đâu, về đâu (!?). Cũng có một, hai địa điểm được quy hoạch làm khu tái định cư, nhưng rồi sau nhiều lần điều chỉnh quy hoạch, khu tái định cư lại nằm trong phần diện tích quy hoạch chùa Bái Đính.
("Xây dựng khu chùa Bái Đính, Ninh Bình: Nhập nhằng chuyện quy hoạch"- http://www.kinhtenongthon.com.vn/printContent.aspx?ID=18630)
Các tiêu cực trong việc GPMB ở đây thậm chí từng dẫn tới việc "43 cây bồ đề ở khu vực chùa Bái Đính bị chặt phá" :

Trưởng phòng hình sự công an tỉnh Ninh Bình cho biết, có 43 cây bồ đề loại nhỏ cao hơn đầu người đã bị chặt phá với dụng ý xấu chứ không vì mục đích kinh tế.
Còn Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Gia Viễn cho hay, đang có nhiều giả thiết về nguyên nhân, có khả năng đây chỉ là mâu thuẫn cá nhân, hoặc quá trình đền bù giải phóng mặt bằng có nhiều điểm chưa thống nhất, dẫn tới đối tượng này bức xúc, quấy phá.
(http://www.vietnamplus.vn/Home/43-cay-bo-de-o-khu-vuc-chua-Bai-Dinh-bi-chat-pha/20099/18062.vnplus)

NHÀ CHÁU CHO RẰNG ĐỂ LÀM CHÙA MÀ PHẢI DÙNG ĐẾN BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ ĐỂ LẤY ĐẤT THÌ THÀ ĐỪNG LÀM CÒN HƠN !

VÀ NHỮNG AI ĐẾN ĐÓ LỄ PHẬT CÓ BIẾT CHUYỆN CƯỠNG CHẾ LẤY ĐẤT LÀM CHÙA?

TUY NHIÊN, CHÍNH BÁO NHÂN DÂN ĐÃ VIẾT RẤT CỤ THỂ VÀ CHÍNH XÁC: KHU NÀY TÊN LÀ “KHU DU LỊCH TÂM LINH”.
MỘT KHÁI NIỆM THẬT QUÁI DỊ!

Nhưng đó cũng là tên gọi 1 khu TO LỚN VÀ NHẢM NHÍ KHÔNG KÉM ở tỉnh Bình Dương: "Lạc cảnh Đại Nam", của 'cá nhân' ông Dũng “lò vôi”.
VÀ NÓ ĐANG ĐƯỢC PHÁT TRIỂN, ĐỂ CÓ: "5 điểm du lịch tâm linh hấp dẫn ở Việt Nam"- http://giaitri.tinmoi.vn/5-diem-du-lich-tam-linh-hap-dan-o-viet-nam-d3640.html
RẤT MONG BÀ CON HIỂU ĐÚNG RẰNG:
CHỖ ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ CHÙA, LÀ NƠI THỜ PHẬT, MÀ LÀ ĐIỂM DU LỊCH, MỘT NƠI KINH DOANH.
Theo quy hoạch này, tổng diện tích khu du lịch Bái Đính lên đến 539,2 ha. Trong đó, mở rộng phía bắc đến sông Hoàng Long, phía nam mở rộng thêm khu tái định cư đồi Hang Thanh, phía đông nam mở rộng đến Áng Nhồi, phía tây giáp tuyến đường 8. Khu du lịch Bái Đính có tám khu chức năng chính, đó là khu chùa Bái Đính mới, rộng 80 ha; chùa Bái Đính cũ 27 ha; khu công viên văn hóa và Học viện Phật giáo 30,28 ha; khu đón tiếp du khách và các đại biểu; đất giao thông, bãi đỗ xe gần 43 ha; hồ Đàm thị và hồ Phóng sinh 143,7 ha; khu cây xanh cách ly và bảo tồn 121,03 ha; khu dân cư 70 ha. (nhandan.com.vn - 17:51 04-07-2009 - http://www.baomoi.com/Xu-ly-nghiem-nhung-truong-hop-xay-dung-trai-phep-tai-khu-du-lich-Bai-Dinh/148/2905842.epi)

CHÙA BÁI ĐÍNH THẬT, HÌNH NHƯ VẪN CÒN, NHƯNG NHỎ XÍU XIU VÀ Ở TÍT PHÍA TRONG.
AI MUỐN LỄ PHẬT XIN HÃY TÌM HỎI MÀ VÀO ĐẤY !
THẾ THÔI Ạ !
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT !!!

P/S: NÊN XEM THÊM "Đừng xóa sổ chùa của tổ tiên" (http://bee.net.vn/channel/1988/201007/GSTS-Tran-Lam-Bie-Dung-xoa-so-chua-cua-to-tien-1760453/)

Copy từ: Phương Bích

Ngoại trưởng Mỹ ủng hộ Philippines đưa tranh chấp Biển Đông ra tòa án quốc tế


Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry
Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry
Tân Ngoại trưởng Hoa Kỳ, John Kerry, ủng hộ quyết định của chính phủ Philippines đưa cuộc tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông ra trước tòa án trọng tài quốc tế.

Báo chí Philippines hôm nay dẫn lời Ngoại trưởng nước này, ông Albert Del Rosario, cho biết trong cuộc điện đàm tối 13/2, Ngoại trưởng Hoa Kỳ nói ông ủng hộ các nỗ lực của Manila trong việc dùng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982, để giải quyết các tuyên bố chủ quyền chồng chéo nhau tại Biển Đông.

Công ước mà 163 nước trên thế giới đã nhất trí ký kết bao gồm Philippines, Việt Nam, và Trung Quốc quy định quyền sử dụng các khu vực ngoài khơi và đặt các ranh giới về chủ quyền cho các nước duyên hải.

Tháng rồi, Philippines loan báo nhờ tòa án của Liên hiệp quốc xác định rằng các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông theo bản đồ đường lưỡi bò 9 đoạn là vô giá trị và trái với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Trung Quốc phản đối hành động này và tố cáo Philippines làm tình hình thêm căng thẳng trong khi Bắc Kinh không ngừng gia tăng các hoạt động hầu giành chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông.

Sự ủng hộ của Ngoại trưởng Mỹ đối với hành động pháp lý của Philippines chống lại Trung Quốc là sự ủng hộ có tính quan trọng và ở cấp cao nhất mà Manila nhận được cho tới nay dù Hoa Kỳ vẫn nhấn mạnh rằng không đứng về bên nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Ngoại trưởng Philippines cho biết ông Kerry cũng là một trong số các nhân vật cổ động cho Philippines mạnh mẽ nhất tại Thượng viện Hoa Kỳ.

Giới phân tích e rằng tranh chấp giữa Trung Quốc, Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei, và Đài Loan tại vùng biển này có thể biến thành một điểm nóng kế tiếp ở Châu Á.

Cựu Tổng thư ký của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, ông Surin Pitsuwan, từng cảnh báo rằng tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông có nguy cơ trở thành một ‘Palestine của Châu Á’,  gây xung đột, chia rẽ các nước và bất ổn cho toàn khu vực.

Nguồn: Inquirer/GMA News



Copy từ: VOA

Kỷ vật Mậu Thân


Thiện Giao (Người Việt) - Âm nhạc, và những tài liệu sót lại từ biến cố Mậu Thân 1968 sẽ là nguồn lưu giữ lâu dài nhất, chính xác nhất, những chứng tích liên quan đến vụ thảm sát Mậu Thân tại Huế. 
Hát trên những xác người 
Mậu Thân 1968, những gì xảy ra cho người đã chết, sẽ còn mãi trong lòng người đang sống. Biến cố ấy sẽ không trôi qua trong quên lãng. Mậu Thân 1968 để lại dấu vết trong âm nhạc, trong văn chương, trong hồi ký, và trên báo chí.
Mậu Thân được mô tả rất thực trong bản nhạc “Hát Trên Những Xác Người” ghi dấu địa danh Bãi Dâu. 
Chiều đi lên Bãi Dâu 
Hát trên những xác người 
Tôi đã thấy, tôi đã thấy 
Trên con đường 
Người ta bồng bế nhau chạy trốn 
Chiều đi lên Bãi Dâu 
Hát trên những xác người 
Tôi đã thấy, tôi đã thấy 
Những hố hầm 
Ðã chôn vùi thân xác anh em... 
Mậu Thân được ghi lại trong “Cơn Mê Chiều” với cầu Trường Tiền, với Kim Long, Nam Dao, lên án “đàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng.” 
Chiều nay không có em 
Mưa non cao về dưới ngàn 
Ðàn con nay lớn khôn 
Mang gươm đao vào xóm làng 
Chiều nay không có em 
Xác phơi trên mái lầu 
Một mình nghe buốt đau 
Xuôi Nam Giao 
Tìm bóng mình 
Ðường nội thành 
Ðền xưa ai tàn phá 
Cầu Tràng Tiền 
Bạc màu loang dòng máu... 
Mậu Thân cũng được ghi lại trong hồi ký nổi tiếng một thời, “Giải Khăn Sô Cho Huế”
Mậu Thân ghi lại những hình ảnh qua âm nhạc, thực và rõ ràng hơn cả hàng trăm thước phim hay hàng loạt bài phóng sự. 
Xác người nằm trôi sông 
Trôi trên ruộng đồng 
Trên nóc nhà thành phố 
Trên những đường quanh co 
Xác người nằm bơ vơ 
Dưới mái hiên chùa 
Trong giáo đường thành phố 
Trên thềm nhà hoang vu... 
Xác người nằm quanh đây 
Trong mưa lạnh này 
Bên xác người già yếu 
Có xác còn thơ ngây 
Xác nào là em tôi 
Dưới hố hầm này 
Trong những vùng lửa cháy 
Bên những vồng ngô khoai 
Những cảnh tượng chết chóc Mậu Thân sẽ không trôi qua trong quên lãng, khi hàng ngàn người, vừa thanh niên, vừa trí thức, vừa sinh viên, học sinh, phải chết chỉ trong chưa đầy một tháng. 
Hai bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, “Bài Ca Viết Cho Những Xác Người”“Hát Trên Những Xác Người” được sáng tác năm 1968, sau khi Trịnh Công Sơn từ Huế trở về Sài Gòn. Những ngày diễn ra biến cố tại Huế, Trịnh Công Sơn có mặt tại cố đô. 
Trong một bài viết cách đây vài năm, nhà văn Phạm Xuân Ðài, một người bạn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, khẳng định, hai nhạc phẩm viết nhân vụ Mậu Thân là sự ghi lại trong vai trò của một nhân chứng. 
Ông viết: “Toàn là những xác người, gần giống như những thước phim tài liệu của Ðức Quốc Xã ghi hình ảnh thi hài chồng chất của người Do Thái. Bài hát này của Sơn là một phóng sự bằng nghệ thuật cho người đời biết thế nào là sự chết chóc khi ‘anh em ta về’ thành phố Huế dịp Mậu Thân. Chắc chắn, đó là dịp Sơn nhìn gần cái chết tập thể nhất, nhìn thấy sự man rợ, tuy vẫn thuộc phạm vi cuộc chiến nhưng không phải thuần túy do động lực chiến tranh. Cả hai bài hát có cùng một đề tài trong hầu cùng một biến cố.” 
Một nhạc phẩm khác, ít được phổ biến bằng hai nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, nhưng chuyên chở một ý tưởng rất lạ, khi mở đầu bằng câu: “Ðàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng.” Phải chăng, “Cơn Mê Chiều” tên của bản nhạc, muốn nói về một lớp trí thức, bỏ Huế ra đi, rồi nay quay lại Huế trong vai trò mới. Một thanh niên trí thức Huế, không muốn nêu tên, nhận định: “Trong vụ thảm sát Mậu Thân, ngoài nỗi đau đớn cho dân tộc trong một cuộc nồi da xáo thịt tàn độc, còn có một nỗi đau lớn hơn, là vai trò một số trí thức Việt Nam trong cuộc thảm sát này. Bài hát có câu: “Ðàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng.” 
Thanh niên này nói thêm: “Ðàn con nớ, có phải chăng là một số trí thức Huế đã đưa Việt Cộng vào làng, rồi sau đó theo ra bưng khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm Huế? Chẳng hạn trường hợp Hoàng Phủ Ngọc Phan, phát biểu trước đây rằng những người bị thủ tiêu chôn sống là thành phần ác ôn có nợ máu với nhân dân.” 
“Tôi tự hỏi là, nếu trí thức là lương tâm và trí tuệ của quốc gia, dân tộc, thì với những phát biểu như rứa, khi nào Việt Nam mới thoát ra được tù hãm của tâm thức thời Trung Cổ? Tôi nghĩ 40 năm đã trôi qua, đây là lúc những người trí thức thiên Tả, trí thức cộng sản hãy tự thẳng thắn đánh giá, phê bình hành vi của mình trong biến cố Mậu Thân, lúc đó mới hy vọng có thể cứu chuộc được mình và cứu chuộc được dân tộc ni.” Vẫn lời người thanh niên gốc Huế. 
Những hình ảnh không quên 
Nhân chứng thời ấy nói rằng, các đám tang tập thể tại Huế vào các năm 1968, 1969 là hình ảnh không thể quên cho những ai từng một lần nhìn thấy. 
Trong bài viết “Mass Murder, Mass Burial” của nhà báo Tito V. Carballo, đăng trên Vietnam Bulletin vào năm 1969, có đoạn mô tả một đám tang tập thể như sau: 
“Dưới ánh mặt trời chói chang, những dãy quan tài được xếp thành từng hàng ngay ngắn. Bên trong mỗi quan đóng vội này là những gì còn sót lại của các thi hài được tìm thấy. Khoảng 15,000 người, trong áo tang trắng, đứng chịu trận dưới trời nắng chang chang. Một ai đó âm thầm khóc, một ai khác khóc to vật vã. Thỉnh thoảng, họ lại nhìn nhau như thể đang tìm một lời an ủi, rằng đây không phải là sự thật, đây chỉ là một giấc chiêm bao.” 
Người dân xứ Huế thời ấy, đặc biệt là người Công Giáo, bàng hoàng trước cái chết của hai linh mục ngoại quốc, ba linh mục Việt Nam, hai sư huynh dòng La San cùng một số tu sĩ khác. Trong bài viết “Bút Tích Cuối Cùng của Linh Mục Bửu Ðồng,” ông Nguyễn Lý Tưởng kể lại, hai linh mục ngoại quốc thuộc dòng Benedicto Thiên An là Linh Mục Urbain và Linh Mục Guy. Ba người Việt Nam là Linh Mục Bửu Ðồng, Linh Mục Micae Hoàng Ngọc Bang và Linh Mục Giuse Lê Văn Hộ. 
Sau đây là lời kể của ông Võ Văn Bằng, trưởng ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân liên quan đến cái chết của Linh Mục Bửu Ðồng. 
“Tôi xúc động nhất là khi đào lên, chúng tôi gặp xác 4 vị linh mục. Tôi còn nhớ rõ Linh Mục Bửu Ðồng, Linh Mục Lê Văn Hộ và hai sư huynh dòng Lasan. Tôi thấy rõ cái thánh giá đeo ngang ngực. Linh Mục Bửu Ðồng còn để lại 3 bức thơ để trong một hộp thiếc, bên ngoài bọc bao nilon.” 
Ba bức thư được ông Bằng nhắc đến được Linh Mục Bửu Ðồng viết, một bức gởi thầy mẹ, một bức gởi các em, và một bức gởi cho giáo hữu. 
Bức thư viết gởi thầy mẹ có nội dung như sau: 
“Thư gởi thầy mẹ, 

Lạy Thầy Mẹ quý mến, Thầy Mẹ rất đau khổ khi mất đi đứa con trưởng nam không được phục vụ Thầy Mẹ trong tuổi già, nhưng Thầy Mẹ sẽ được an ủi và vui mầng khi được tin con đã can đảm vì mến Chúa, yêu người trong chức vụ Linh Mục và nhiệm vụ Tông đồ. 

Xin Thầy Mẹ hãy tha mọi tội lỗi và những gì không làm vui lòng Thầy Mẹ trong 57 năm nay. Xin hẹn gặp nhau trên nước Chúa. Xin Thầy Mẹ ban phép lành cho con.” 
Cuộc thảm sát Mậu Thân, đến hôm nay tròn 45 năm. Các chứng tích một thời, chẳng hạn nghĩa trang trên núi Ba Tầng, còn gọi là núi Bân, nơi an táng khoảng 400 thi hài tìm được nơi Khe Ðá Mài vùng Ðình Môn Kim Ngọc Tháng Chín, 1969, đã bị đập phá ngay năm 1975 khi quân đội miền Bắc tiến vào miền Nam. 
Linh Mục Phan Văn Lợi kể lại: “Kể từ năm 1968, mỗi năm người ta vẫn đến để cúng vái, cầu nguyện nhân dịp Tết. Riêng bên Công Giáo, tại giáo xứ Phủ Cam, mỗi năm dành ngày Mồng Mười Tết để toàn thể giáo dân lên đó cầu nguyện. Nhưng đến năm 1975, sau khi chiếm được miền Nam, Cộng Sản đã phá ngay tấm bia dựng ở phía sau và phá hai bàn thờ nằm ở phía trước. Từ đó về sau, người ta có đến cũng chỉ đến trong âm thầm lặng lẽ hoặc cá nhân mà thôi, không dám công khai.” 
Liệu, việc hủy hoại những chứng tích ấy có thể che giấu sự thật đã xảy ra tại Huế, khi người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ, đã hát hay đã đọc các chứng tích khác, được ghi lại qua âm nhạc, văn chương và báo chí? 
Mậu Thân 1968, những gì xảy ra cho người đã khuất, sẽ còn mãi trong lòng người đang sống. Biến cố ấy sẽ không trôi qua trong quên lãng. 

_______________________________
Ghi chú: Bài viết được tổng hợp, biên tập lại từ các bài viết cùng tác giả, đã được phát trên đài phát thanh Á Châu Tự Do, RFA, năm 2008.




Copy từ: Dân Làm Báo

Đồng bào Huế gửi “quà Xuân” cho nữ đạo diễn Lê Phong Lan



Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - “Đồng bào Huế có thể hỏi y thị Phong Lan rằng: Ngay từ bây giờ y thị có đủ can đảm đối chất công khai với nhân dân Huế không? và hãy vào Huế trưng ra mọi hình ảnh, hoặc chỉ cho nhân dân Huế thấy những nơi nào là: Bom đạn, pháo Mỹ từ Hạm đội 7 ngoài khơi Thái Bình Dương bắn vào, 80% thành Huế đổ nát và bị san phẳng như một bãi chiến trường? - (Trong khi toàn bộ các đình, chùa, nhà thờ và hoàng cung, Thành Nội bao la, sau 1975 còn nguyên vẹn tới 90%)”







 
Đây là 'gương mặt' Lê Phong Lan - mà đồng bào thân nhân, 
nạn nhân của tội ác cộng sản VN – Trong và ngoài nước rất cần thiết phải ghi nhớ
Trích lời: Lê Phong Lan (trong bộ phim):
- Tôi chia sẻ hết những thứ tôi có, đó là một câu chuyện thấm đẫm xương máu hy sinh và những mất mát ở Huế mùa xuân năm 1968. Bom đạn, pháo Mỹ từ Hạm đội 7 ngoài khơi Thái Bình Dương bắn vào, 80% thành Huế đổ nát và bị san phẳng như một bãi chiến trường, nhưng tuyệt nhiên, không có một vụ thảm sát nào do quân đội phía ta (CSVN) gây ra như một tiểu thuyết tâm lý chiến của phía Việt Nam cộng hòa đã dựng lên. (?)
Đồng bào nhân dân chúng ta hãy ghi vào tâm khảm lời này của “y thị” tuyên bố, trên hệ thống truyền thông: “tuyệt nhiên, không có một vụ thảm sát nào do quân đội phía (CSVN) gây ra như một tiểu thuyết tâm lý chiến của phía Việt Nam cộng hòa đã dựng lên”. (? )
Đây chính là “tư liệu” bằng chứng hiển nhiên, đủ để nhân dân TP/ Huế đưa y thị “lên giá treo cổ” trong một tương lai gần, trước tòa án “Hồi Tố” tội ác CSVN .
Đồng bào Huế có thể hỏi, y thị Phong Lan rằng: Ngay từ bây giờ y thị có đủ can đảm đối chất công khai với nhân dân Huế không? và hãy vào Huế trưng ra mọi hình ảnh, hoặc chỉ cho nhân dân Huế thấy những nơi nào là: Bom đạn, pháo Mỹ từ Hạm đội 7 ngoài khơi Thái Bình Dương bắn vào, 80% thành Huế đổ nát và bị san phẳng như một bãi chiến trường? - (Trong khi toàn bộ các đình, chùa, nhà thờ và hoàng Ccung, Thành Nội bao la, sau 1975 còn nguyên vẹn tới 90%).
Chỉ có Cổ Thành Quảng Trị, nơi trung đoàn Triệu Hải CS/Bắc Việt (2000 quân) được lệnh của chóp bu CS cố “bám trụ 86 ngày” phục vụ cho mục đích của CS Bắc Việt “vừa đánh vừa đàm” ở Paris mới bị oanh tạc “xóa xổ” 80% chỉ còn chưa đến một tiểu đội (10 người) trốn thoát.
Toàn thể đồng bào nhân dân – nhất là nhân dân Miền Nam xin “nhà nước, đảng ta” và y thị Phong Lan vui lòng chỉ ra giùm: Trong hơn 30 thành phố miền Nam mà quân đội CS Bắc Việt tấn công năm Mậu Thân 1968 nơi nào nhân dân đã “nổi dậy” để trong bộ phim “đảng ta” gọi là: “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường” (?)
Ngược lại, một sự kiện quan trọng rất “anh dũng và kiên cường” đã xảy ra, một số nhân viên và sĩ quan cao cấp của CS Bắc Việt đã ra “hồi chánh” với phía VNCH bao gồm:
1. Thượng tá Tám Hà Trần Văn Đắc: chính uỷ sư 5
2. Trung tá Huỳnh Cự
3. Trung tá Phan văn Xưởng
4. Trung tá Lê Xuân Chuyên
5. Bác sĩ Đặng Tân, trưởng ty y tế Pleiku
6. Nhà văn Xuân Vũ Bùi Quang Triết
7. Nhạc sĩ Phan Thế
8. Diễn viên Cao Huynh
9. Mai Văn Sổ (em song sinh của Mai Văn Bộ - bộ ngoại giao Bắc Việt)
10. Bùi công Tương; uỷ viên tuyên huấn tỉnh Bến Tre .
Hồi chánh viên Tám Hà -Nguồn ảnh: psywarrior.com
Thượng tá Trần Văn Đắc tự Tám Hà (thứ ba từ trái qua) sau khi “hồi chánh” đã thuyết trình về thất bại của CS Bắc Việt trong Mậu Thân 68 trước công luận báo chí truyền thông quốc tế và đồng bào miền Nam tại SàiGòn. (Tháng 6/1968) .
Và vì vậy đồng bào nhân dân mình, nhất là các bạn trẻ chưa thấy “nhà nước, đảng ta” trả lời chính xác cho câu hỏi: “Ai ? nổi dậy hồi nào? và ở đâu? trong Mậu Thân 68 và 1975 nói trên, thì hãy suy nghĩ thật nhiều những lời “vàng ngọc” của các yếu nhân và nguyên thủ quốc gia về chủ nghĩa CS, liên quan đến con người cộng sản VN đang bằng mọi cách cứ “lừa bịp” đồng bào ta hôm nay:
German Chancellor Angela Merkel (Thủ Tướng Đức):
The communists make the people deceitful. 
Cộng sản đã làm cho nhân dân trở thành người gian dối.
Russia President Vladimir Putin (Tổng Thống Nga):
He who believes the communists has no brain. He who follows the communists has no heart.
Ai tin cộng sản, là không có cái đầu. Ai làm theo lời của cộng sản, là không có trái tim.
Soviet Secretary General Mikhail Gorbachev (Tổng Bí Thư Xô Viết):
I have devoted half of my life for communism. Today, I am sad to say that The Communist Party only spreads propaganda and deceives…
Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng: cộng sản chỉ biết “tuyên truyền và dối trá”.
Secretary General Milovan Djilas (Tổng Bí Thư Đảng CS Nam Tư):
At 20, if you are not a communist, you are heartless. At 40, if you don’t abandon communism, you are brainless.
20 tuổi mà không theo cộng sản, là không có trái tim. 40 tuổi mà không từ bỏ cộng sản, là không có cái đầu.
Dalai Lama: The Communists are wild weeds that sprawl on the devastation of war.The Communists are venomous insects that breed on the garbage.
Cộng sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh là loài vi trùng độc, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời.
Russia President Boris Yeltsin:
Communists are incurable, they must be eradicated.
Cộng Sản không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó.

*
Loạt bài về Mậu Thân Huế:
 
 

Copy từ: Dân Làm Báo

NGHỊ PHƯỚC lại loạn ngôn




NGHỊ PHƯỚC XUYÊN TẠC LỊCH SỬ
     
    * Bùi Văn Bồng                                                                                           
BVB - Trên trang web mang tên rất Tây: http://www.emotino.com – tôi đã đọc khá kỹ một số bài viết của ông Hoàng Hữu Phước, đại biểu Quốc hội (QH) khóa XIII. Ông đại biểu (ĐB – gọi nôm na là nghị) Phước dường như cũng tự hiểu rằng ít người biết đến mình. Cho nên ông ta cũng có chiến thuật nổ ngược chiều gây ấn tượng. Ai cũng còn nhớ, năm ngoái ông bô bô phát biểu trước QH là phải dẹp bỏ Luật Biểu tình, rằng: "VN ta không cần Luật Biểu tình, vì trình độ dân trí còn thấp" (!?).
Ông cũng tinh ranh thật. Quả nhiên sau phát nổ lùm bùm của ông là cả nước, và cả thế giới đã biết đến ông. Khi mà người ta biết cả, thì tôi cũng buộc phải biết đến ông (dù ngoài ý muốn), và phải mất công “tự nghiên cứu” để phần nào có thể hiểu thêm về ông. 
Để làm gì? Trước hết là thử tìm hiểu xem thiên hạ đồn đại rằng ông mắc "hội chứng thần kinh có vấn đề" có đúng thế không? Tôi vẫn nghi đằng sau đó có chuyện gì? Chẳng lẽ một nghị sĩ xứ ta như ông Phước mà lại đến mức ấy.  Tôi cũng nghĩ là ông bị oan, bị người ta ghét vì một lý do gì đó mà châm chọc ông với một cách áp đặt rất tréo ngoe. Tôi có băn khoăn: Đại biểu QH đâu đến nỗi thế, dân thường canh nông không ra khỏi lũy tre làng còn biết đúng-sai, phải-trái. Huống hồ ông đã có bằng thạc sĩ tu nghiệp tận xa xôi quốc ngoại. Thứ hai, tôi cũng muốn tìm hiểu xem những “tư tưởng ái quốc” của ông nó thiết tha, chân thành, cao siêu và hoàn mỹ đến cỡ nào? Bởi ông là 1 trong 4 nhân vật tự ứng cử vào QH, mà ông chưa phải đảng viên. Thế nên, cứ coi ông là hiện tượng khác biệt.

          Tôi đã đọc khá kỹ, nhưng chưa hết các bài trong trang web của ông. Với những lối bài viết lẩu xà bần của ông, nếu không có gì gấp thì cứ từ từ mà đọc, đỡ phát bệnh. Là vì đọc ngay từ bài đầu tiên tôi đã chán ngấy lên tận cổ, suýt bị choáng rồi. Đó là bài đưa trong chuyên mục rất kêu, kêu gấp mấy lần thùng rỗng, là : "Luận về những vấn đề thời đại”.  Thế kia đấy. Cái chuyên mục toàn là "luận", mà chỉ có những nhân vật tầm cỡ uyên bác uyên thâm, chuyên sâu lâu năm mới dám “Kêu Gào” như thế. Nhưng thôi, ông thích thế thì kệ ông. Trong chuyên mục này tôi đọc bài “Luận về đa đảng”, do ông post lên mạng công khai trước binh dân thiên hạ vào ngày 13/02/2011, với một đường LINK ít dấu chéo sau đây:  http://www.emotino.com/bai-viet/18997/da-dang. Ông lập trang chủ lấy tên trang blog cá nhân là: hhphuoc.blog.com, nhưng khi muốn đọc các bài viết thì tự nó lật sang trang khác, diện dẫn truyền băng thông rộng và mạnh hơn, với cái tên: http://www.emotino.com – cách tạo trang mạng này rất khác người, không biết ông cố tình "lật cánh” địa chỉ vào trang websize như thế có mục đích định gạt ai hoặc đánh lạc hướng chuyện gì không? Thấy lạ! Ông  tung bài lên trang web “nhà” cứ như ông là nhà ngôn ngữ học thực thụ. Ông như nhà sử học. Ông như chính trị gia có hạng.. Ông như nhà kinh doanh đại tài. Ông như nhà tổ chức, nhà hùng biện… tức ông tự coi mình như là thầy thiên hạ, khoe danh mọi thứ "nhà". Trên trang web cá nhân, ông có hẳn một chuyên mục “Luận về ngôn ngữ” (nói chung, ông khoái chữ “Luận”, nhiều chuyên mục đêu có chữ “Luận” đứng “TOP”).
          Và bây giờ, dẫu như ông có phải khó chịu, miễn cưỡng để đọc bài này, thì coi như tôi nêu vài ý kiến nhỏ về “văn phong thạc sĩ” của ông. Ví dụ như: Ngay phần đầu bài “Luận về đa đảng”, ông viết: “…Thế nhưng, vấn đề đa đảng sẽ cứ mãi được phóng viên nước ngoài lập đi lập lại trong những ngày tháng năm sắp đến, cũng như sẽ mãi được các nhóm chống Cộng khai thác để công kích Việt Nam, còn những người Việt ít làm việc trí óc thường dễ bị phân vân trước các khích bác…”.
             Tôi không nghĩ nhiều về nội dung của mấy câu này. Chỉ biết rằng ông khoe tài ngôn ngữ, có năng lực phản biện, nên tôi chỉ nói về chính tả, từ ngữ mà thôi. Trong đoạn văn trên, ông sai chính tả mấy chỗ liền (chấm, phảy câu văn của ông thì khỏi bàn, bài nào, đoạn nào cũng thấy tùm lum... 
               Diễn đạt các vế dẫn trong một câu khác, lối viết của ông đã gây phản cảm cho người đọc.  Bà con ta hay nói nôm na là “cái thứ ăn nói vụng về, mất công lôi cả con cà con kê”. Ông viết là “những người Việt ít làm việc trí óc thường dễ bị phân vân”. Câu này ông phân biệt đối xử với những ai, ám chỉ ai? Những người mà ông mới đưa ra với cái giọng điệu khinh rẻ, miệt thị đó là ai? Và liệu rằng trong đó có những người lao động chân lấm tay bùn, do nghèo nàn mà phải chịu nghèo chữ, có ai là cử tri may mắn của ông không. Thạc sĩ đừng nên viết quá vội mà người ta bảo ông hấp tấp, nông cạn đấy.
          Ông lại tự khoe mẽ, nhưng vẫn  đại vô duyên với lối diễn đạt như câu này: “… những người hay chuyển đến tôi nhiều bài viết chống cộng ở hải ngoại do thích nghe tôi phản pháo mà họ cho là dễ hiểu dễ nhớ khó cãi khó chống”.  Câu này khỏi bàn, vì kéo dài thêm bài viết không cần thiết và cũng tránh bớt mỏi tay gõ phím, nhưng ông diễn đạt như mớ rác nới rãnh ngõ bị gió thổi tung bụi mù, rối bòng bong.
Cái này mới độc, mới cần nói, không nói không được. Ông viết cái kiểu “vơ đũa cả nắm”, mà sai đường lôi, chính sách của Đảng, nhất là chủ trương trọng dụng nhân tài, kêu gọi đầu tư, khuyến khích, vận động mọi người VN trong nước và Việt kiều ở nước ngoài đem tài trí, sức lực, vốn liếng tham gia vào công cuộc đổi mới đất nước. Và với đoan văn này ông cũng cố tình nói sai với chính sách của Đảng, Nhà nước và Chính phủ hiện nay nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ nhiều hướng, nhiều hệ, nhiều chương trình đạo tạo. Ông viết một đoạn dài ngoằng như bắn súng liên thanh nổ loạn xạ ầm chéo bên tai người ta:  “…Nhân dân Việt Nam không bao giờ cho phép Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt sinh hoạt chính trị sống còn của đất nước Việt Nam vào tay những kẻ vô danh tiểu tốt chỉ có hai thứ lận lưng là (a) tấm bằng thạc sĩ hay tiến sĩ của đại học Mỹ và (b) tiền tài trợ của Mỹ và những nước tương cận mưu toan xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam để ăn cướp thành quả cách mạng mà chỉ riêng Đảng Cộng Sản Việt Nam tạo dựng nên”.
Bây giờ, đọc những “áng văn thạc sĩ” của nghị Phước, càng thấy rõ ông quá loạn ngôn. Nhưng mà, đọc bài “Luận về đa đảng" của nghị Phước có 3.000 ký tự, nếu cứ soi chính tả, tu từ học, cú pháp, ngữ nghĩa… thì không thể nào phê bình cho xuể. Ít có câu hành văn trôi chảy.
Hoặc cà chớn cà manh như bài mới đây: "Nay thiên hạ trong cơn u u minh minh tối tối sáng sáng của thời Mạt Pháp lúc tôn giáo suy đồi, sư sãi ngứa ngáy nhảy cà tưng cà tưng trên nóc ô-tô rống loa kích động chống lại chính quyền, linh mục điên loạn gào thét co giò đạp đổ vành móng ngựa giữa chốn pháp đình uy nghiêm khiến ngay ngoại bang cũng phải giật mình cười chê còn Tòa Thánh cũng buộc phải ngó lơ, chân lý lung lay, tà mỵ huyễn hoặc hoành hành dù nhấp nha nhấp nhổm rúc chui cống đấy cống này blog nọ blog kia cũng rống loa rao truyền sứ điệp..." (http://www.emotino.com ). Ô hay! tại sao ông Phước lại đem sư sãi mà kéo nhằng dính vào Tòa Thánh?
                                             *        *        *
Điều cần nói hơn trong bài này, rất cần phải nói cho đúng, cho rõ  để may ra có thể góp phần nào đó giải oan cho cụ Phan Bội Châu, mà ông nghị Phước đã thẳng tay chụp cho cái tội bán nước (!?). Hơn nũa, tôi cũng có mộ ý nghĩ hữu hảo muốn qua đây thêm một ý kiến “cử tri góp ý với đại biểu QH”. Tức là thế này: Ông nghị Phước ơi, ông viết cái gì tùy ở ông, nhưng ông đừng thóa mạ nhà cách mạng Phan Bội Châu, ông đừng xuyên tạc, bóp méo lich sử.
Ông dám viết một cách tự nhiên đến mức thẳng đơ:  “…Việt Nam hoàn toàn khác: tất cả các phe nhóm và đảng phái chính trị đều hoặc làm tay sai cho Pháp hay Nhật hay Hoa hay Mỹ, hoặc tự bươn chải chỉ biết dùng nước mắt bạc nhược cố tìm “đường cứu nước” (như Phan Bội Châu khóc lóc với Lương Khải Siêu khi nhờ Lương Khải Siêu giới thiệu với Nhật xin giúp kéo quân sang Việt Nam đánh Pháp), mà không biết mình rất có thể đã “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về dày mả tổ”, mở đường cho sự quan tâm của Quân Phiệt Nhật tàn bạo đánh chiếm và giết chết nhiều triệu người Việt Nam…phải nhờ Lương Khải Siêu ban phát cho lời khuyên can mới hiểu ra sự nguy hiểm của lời yêu cầu Nhật đem quân đến Việt Nam giúp đánh Pháp, và tất cả đều chống Cộng…nên việc “đòi quyền lợi” hay “đòi quyền tham chính” của tất cả các cá nhân, tất cả các phe nhóm chính trị bên ngoài Đảng Cộng Sản Việt Nam là điều không tưởng, vô duyên, khôi hài và bất công, nếu không muốn nói là hành vi bất lương của kẻ cướp muốn thụ hưởng quyền lực chính trị trong khi đã không có bất kỳ công sức đóng góp nào cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngoài sự chống phá ngay từ bản chất”.
          Trời đất! Nghị Phước ơi! Tôi đâu có ngờ ông vác cái bằng “thạc sĩ” ở đâu về nhét ngăn kéo mà ông chẳng hiểu gì về lịch sử dân tộc, cũng như điều kiện, hoàn cảnh, tình thế đất nước qua từng giai đoạn, từng thời điểm lịch sử. Ông cũng không hiểu tí nào về những cụm từ như: “hoàn cảnh lúc đó”, “ bối cảnh lịch sử”, “ý thức tìm đường cứu nước”, và phổ biến hiện nay người ta hay dùng trên bình diện phân tích  thời luận là “xu thế thời đại”…Ông ở thành phố Hồ Chí Minh, hoặc đến các đô thị khác, ông không nhìn thấy những đường phố mang tên Phan Bội Châu lừng lững à? Ông viết như thế, mà tự không thấy mình mang tội “đại phạm thượng” và hỗn láo với Cụ Phan hay sao? Và chứng tỏ ông cũng không biết gì về mối quan hệ của cụ Phan Bội Châu với nhà canh tân Lương Khải Siêu. Chỉ một đoạn văn ngắn mà ông xúc phạm cả hai danh nhân vốn là “chính trị gia có tư tưởng và việc làm canh tân vì dân vì nước thời đó.  Mà cụ Phan Bội Châu bỗng dưng không đâu bị ông kéo vào bài đa đảng thì cũng thật là oan ức cho hương hồn của Cụ. Sao ông mắc chứng loạn ngôn quá quắt đến nỗi bị lẫn lộn người yêu nước với kẻ bán nước? Ông bị lú lẫn thế nào mà quên phắt câu thơ trong bài Theo chân Bác của Tố Hữu: “Phan Bội Châu, câu thơ dậy sóng” (!?)
          Ông biết được bao nhiêu về Lương Khải Siêu? Và mối quan hệ, cùng sự phối hợp giúp nhau trên cơ sở cùng chung quan điểm canh tân thời đó giữa Cụ Phan với Lương Khải Siêu? Sao ông dám viết rất liều rằng: “…nhờ Lương Khải Siêu ban phát cho lời khuyên can mới hiểu ra sự nguy hiểm của lời yêu cầu Nhật đem quân đến Việt Nam giúp đánh Pháp, và tất cả đều chống Cộng…”. Làm gì có trang chính sử nào ghi như thế? Thông tin này ông lấy ở đâu ra mà lại đem cột nó vào bài viết để thóa mạ Cu Phan vốn chẳng có tội tình gì với ông? Ông hãy nghe những thông tin và sử liệu thực sự tin cậy như sau:
           Lương Khải Siêu (1873 - 19290, tự: Trác Như, hiệu: Nhiệm Công, bút hiệu: Ẩm Băng Tử, Ẩm Băng Thất chủ nhân. Ông là nhà tư tưởng và là nhà hoạt động chính trị Trung Quốc thời cận đại. Ông cùng với thầy là Khang Hữu Vi thuộc phái Tân Học, muốn canh tân, đổi mới đất nước, cải biến xã hội. Hai thầy trò đã đè xướng biến pháp. Khang Hữu Vi liền tranh thủ vận động được 1.300 sĩ tử cùng ký tên vào Bức thư vạn chữ (Vạn ngôn thư) của mình, đề nghị Hoàng đế không phê chuẩn điều ước Mã Quan với Nhật và cần làm gấp cuộc Biến pháp Duy tân (nói vắn là biến pháp). Trong khi đó, Lương Khải Siêu cũng đã thảo thư với nội dung tương tự, kèm theo chữ ký của 190 cử nhân tỉnh Quảng Đông.
Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu được Hoàng Đế Quang Tự cho mời vào cung. Khi nghe hai ông trình bày chủ trương Biến pháp xong, Hoàng đế tỏ ý rất đồng tình. Công cuộc Biến pháp bắt đầu bằng hàng loạt các sắc lệnh của Hoàng đế, như mở trường học, làm đường sắt, cải cách chế độ thi cử, giảm biên chế các tổ chức hành chính, luyện tập quân đội theo lối mới, v.v...Trong khoảng chưa đầy ba tháng, hơn một trăm đạo chiếu được ban ra, làm cho cả trong triều lẫn ngoài tỉnh xôn xao. Đúng là "toàn biến" và "tốc biến" như khẩu hiệu đã đề ra. Lúc này Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu đều được Hoàng đế phong chức Kinh khanh để có điều kiện lo cho công việc.
Cuộc Biến pháp đang tiến hành, thì vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của phái thủ cựu (sử gọi là Hậu đảng), mà người đứng đầu là Từ Hi Thái Hậu. Bà ban lệnh cấm sĩ dân dâng thư, phế bỏ cục Quan báo, đình chỉ việc lập học hiệu, dùng lại lối văn tám vế để chọn kẻ sĩ, bỏ khoa thi đặc biệt về kinh tế, bỏ các tổng cục nông công thương, cấm hội họp, cấm báo quán, cấm biểu tình, tụ hội và cho truy nã các Chủ bút (nhất là Lương Khải Siêu). Để tránh họa truy nã của Từ Hy Thái Hậu, Lương Khải Siêu phải chạy lánh sang Nhật Bản…
          Nhưng, chuyện này dài lắm, nay chỉ thêm một đoạn là Lương Khải Siêu đã giúp Phan Bội Châu viết cuốn “Việt Nam vong quốc sử”. Có chuyện Phan Bội Châu khóc. Nhưng cái khóc của cụ Phan Bội Châu không đơn thuần như nghị  Phước đã xuyên tạc, không phải khóc do yếu đuối , đớn hèn, người mau nước mắt thì đau giám đi ra nước ngoài tìm cchs cứu nguy dân tộc? Là người yêu nước ai mà không động lòng trước cảnh nước mất nhà tan, cả dân tộc bị rơi vào ách nô lệ? Hơn nữa, gặp Lương Khải Siêu, biết là có đường hướng cho cách mạng Việt Nam, cụ Phan đã khóc. Cũng giồng như: “Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc / Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lê-nin” ( Người đi tìm hình của nước- Chế Lan Viên). Đó là lẽ thường tình. Cớ gì mà trong bài viết ông lại đưa nước mắt Cụ Phan từ đời xưa để chê bai, diễu cợt như thế!
             Về giá trị của cuốn “Việt Nam vong quốc sử “ thì dân ta ai cũng biết rồi. Nhưng với nghị Phước, tôi phải trích ra đây những nhận xét xác đáng về công lao cũng như ý nghĩa việc sang Nhật của Cụ Phan, để mong “ông nghị” đừng tái phạm sai lầm. Một sai lầm quá lớn là xuyên tạc lịch sử.  Đây, ông nghị Phước nếu chưa đọc, thì mời đọc; nếu bị quên, thì rất nên đọc lại:
          1_ Khoảng đầu năm 1945, Phan Bội Châu viết “Việt Nam vong quốc sử”, sau đó được Lương Khải Siêu đề tựa và in giúp. Thư cục Quảng Trí (Thượng Hải, Trung Quốc) ấn hành lần đầu tiên vào tháng 9 năm 1905. Năm sau (1906) sách được tái bản, và chỉ tính đến năm 1955, tác phẩm đã được in thêm 3, 4 lần nữa.
2_ Theo David Marr, thì Việt Nam vong quốc sử là tác phẩm tiêu biểu cả một thời kỳ trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam.
3_ Trong bài  Việt Nam vong quốc sử - Một tác phẩm tiêu biểu của Phan Bội Châu, tác giả Hồ Song viết:
“Trong công tác tuyên truyền cách mạng của Phan Bội Châu, Việt Nam vong quốc sử được coi là tác phẩm mở đầu và tiêu biểu nhất của ông…Với những điều mắt thấy tai nghe, lần đầu tiên ông đã dựng lên một bản cáo trạng khá toàn diện và có chiều sâu về tội ác của thực dân Pháp ở Việt Nam…Lên án chủ nghĩa thực dân Pháp, dụng ý của Phan Bội Châu không phải là làm cho người đọc hướng về nội tâm bi phẫn, mà là thúc giục họ đứng lên hành động cứu nước. Vì vậy, ông thuật lại những tấm gương hy sinh anh dũng của những chí sĩ đã bỏ mình vì nước từ buổi đầu chống xâm lược đến thời kỳ ứng nghĩa Cần Vương””…
4_ Trong Phan Bội Châu niên biểu, tác giả kể: “Thượng tuần thánh 8., ông (Phan Bội Châu) đến Quảng Đông (Trung Quốc), vào thăm Lưu Vĩnh Phúc,  nhân tiện để yến kiến ông Nguyễn Thiện Thuật là Tham tán Tam Tuyên ngày trước. Đã hơn mười năm nay, ông Thuật nghiện thuốc phiện, nhưng sau khi đọc xong chương trình Duy Tân hội và cuốn Việt Nam vong quốc sử, ông đã đập bàn đèn và tiêm móc, rồi nói to với ông Phan rằng: Các anh là bọn hậu tiến còn lo nghĩ thế này, có lẽ nào tôi cứ sống mãi ở trong vòng đen tối hay sao. Rồi từ đó, ông Thuật quyết chí cai nghiện thuốc phiện”.
5_ Nhà phê bình văn học Hoài Thanh: “Chỉ vì đọc Phan Bội Châu mà hàng nghìn thanh niên đã cắt tóc bím, vứt hết sách vở văn chương, nghề cử tử, cùng cái mộng công danh nhục nhã gắn trên đó; lìa bỏ làng mạc, nhà cửa, vợ con, rồi băng ngàn lội suối, bất chấp mọi nỗi đói thiếu, nguy hiểm, khổ sở để qua Xiêm, qua Tàu, qua Nhật mà học hỏi, mà trù tính việc đánh Tây. Đó là một thành công vĩ đại. Trong tác dụng ấy của văn thơ Phan Bội Châu, có Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư đóng góp một phần rất quan trọng”. 
              Ở Việt Nam, dưới thời Pháp thuộc, tác phẩm này được coi là một trong số những "yêu thư, yêu ngôn", bị chính quyền lúc bấy giờ cấm lưu hành và tàng trữ. Tuy nhiên, ngay khi in xong, sách vẫn được bí mật đưa về, nhưng chỉ được phổ biến trong một phạm vi hẹp. Năm 1907, sách Việt Nam vong quốc sử được dùng làm tài liệu học tập của trường Đong Kinh nghĩa thục.
              Hiện nay, sách Việt Nam vong quốc sử in lần đầu chỉ còn một bản duy nhất và đang được cất giữ tại Thư viện trường Viễn Đông bác cổ (nay là Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội (ở Hà Nội), mang ký hiệu A. 2559. 
   Vậy, ta nói nghị Phước cố tình xuyên tạc lịch sử có phải là vu khống, làm oan sai cho ông ta hay không? Và thêm nữa, bởi  cái bênh huênh hoang, khoác lác, khoe mẽ, cao ngạo,  phớt đời nên đã mắc trọng tội phạm thượng khi quân.
        Mới đây, ngày 9/2/2013, nghị Phước lại tung lên trang     bài: "Dương Trung Quốc - bốn điều sai năm cũ (Tứ đại ngu)", chưa nói đến chuyên hai ông nghị hằm he nhau, hạ bệ nhau, mà riêng cái đoan đúc kết lời Khổng Tử: ..."(f) còn người nào dù có điều kiện hơn thiên hạ vẫn vừa không biết ai là bậc thầy trong thiên hạ để tìm đến quỳ lạy người ấy xin theo học, vừa bê tha bê bối bê trễ việc học tập học hỏi học hành nên không thể biết lẽ phải điều hay, lại hay to mồm phát ngôn toàn điều càn quấy là kẻ đại ngu"..., khiến thiên hạ lại thêm bằng chứng tán đồng với nhau rằng: Đó là ông Phước đang tự vận vào cho chính mình. Có lẽ cũng biết quán triệt "tự phê bình"!
       B.V.B
---------------------/
> Vậy mà, mới đầu năm CON RẮN, ông nghị Phước lại bị thiên hạ lôi ra chửi:
SAO ĐƯỢC CHO RA CÁI GIỐNG NGƯỜI
* VŨ THỊ PHƯƠNG ANH
Nói là đầu Xuân thì không còn đúng nữa, vì hôm nay đã mùng 5 Tết. Mà đúng ra thì Tết chỉ có 4 ngày, 30 và mùng 1, 2, 3. Nhưng đối với tôi thì hôm nay vẫn là đầu Xuân, vì mấy ngày qua tôi không có ở nhà, mà đi xa cùng với gia đình. Và với tư cách là một người viết lách, những dòng viết đầu tiên của một năm mới dù sao cũng có chút gì đặc biệt.

Nhưng viết gì đây nhỉ? Đầu Xuân, lẽ ra phải viết những điều tốt đẹp, những mơ ước cho tương lai, nhưng trong đầu tôi lúc này lại chỉ toàn những suy nghĩ về một entry mới mà ông nghị nổi tiếng HHP viết vào ngày 30 Tết (9/2/2013). Nếu ai chưa đọc và có nhiều thì giờ thì xin vào đây (http://www.emotino.com/bai-viet/19810/duong-trung-quoc-tu-dai-ngu) để đọc. Đó là một bài viết mà ông nghị Phước viết về một ông nghị khác là ông Dương Trung Quốc.
Tôi thì không biết gì về ông DTQ, cũng không có ấn tượng gì đặc biệt về ông (dù ông khá nổi tiếng với nhiều phát biểu liên quan đến những vấn đề lớn của đất nước với tư cách là nghị viên), còn những "kiến thức" mà ông Phước đã nêu trong bài viết tôi cũng không phải là chuyên gia nên sẽ không bình luận gì về nội dung bài viết ấy, nhưng cái cách mà ông Phước viết về ông DTQ quả thật tôi thấy thật khó chấp nhận.
Ví dụ, liệu có thể tin rằng một ông đại biểu quốc hội có học hành tử tế, luôn nhắc mọi người rằng mình có bằng thạc sĩ, bản thân đã từng là thầy giáo và vẫn thường xuyên nhắc lại thời gian làm nghề giáo của mình một cách tự hào, lại có thể viết được đoạn dưới đây một cách vô cùng "lưu loát" và đầy thích thú như thế này không:
Dương Trung Quốc hoàn toàn không biết rằng mại dâm bao gồm đĩ cái, đĩ đực, đĩ đồng tính nữ, đĩ đồng tính nam, và đĩ ấu nhi. Dương Trung Quốc hoàn toàn không biết rằng khi “công nhận” cái “nghề đĩ” để “quản lý” và “thu thuế”, thì phát sinh … nhu cầu phải có trường đào tạo nghề đĩ thuộc các hệ phổ thông đĩ, cao đẳng đĩ, đại học đĩ; có các giáo viên và giáo sư phân khoa đĩ; có tuyển sinh hàng năm trên toàn quốc cho phân khoa đĩ; có chương trình thực tập cho các “môn sinh” khoa đĩ; có trình luận văn tốt nghiệp đĩ trước hội đồng giảng dạy đĩ; có danh sách những người mua dâm để tuyên dương vì có công tăng thu nhập thuế trị giá gia tăng cho ngành công nghiệp đĩ; có chính sách giảm trừ chi phí công ty hay cơ quan nếu có các hóa đơn tài chính được cấp bởi các cơ sở đĩ, đặc biệt khi cơ quan dùng vé “chơi đĩ cái” tặng nam nhân viên và vé “chơi đĩ đực” cho nữ nhân viên nào ưu tú trong năm tài chính vừa qua; ban hành quy định mở doanh nghiệp cung cấp đĩ, trường dạy nghề đĩ, giá trị chứng chỉ văn bằng đĩ trên cơ sở so sánh giá trị nội địa, khu vực, hay quốc tế; và có các hướng dẫn về nội dung tờ bướm, tờ rơi, bảng quảng cáo ngoài trời, quảng cáo bên hông xe buýt và trên thân máy bay, cũng như quảng cáo online về đĩ, tập đoàn đĩ lên sàn (chứng khoán), v.v. và v.v.

        Cũng vậy, liệu có thể tin rằng một đại biểu quốc hội đương nhiệm lại có thể nói về các bậc tu hành của các tôn giáo một cách phỉ báng và hỗn xược như thế này không:
Nay thiên hạ trong cơn u u minh minh tối tối sáng sáng của thời Mạt Pháp lúc tôn giáo suy đồi, sư sãi ngứa ngáy nhảy cà tưng cà tưng trên nóc ô-tô rống loa kích động chống lại chính quyền, linh mục điên loạn gào thét co giò đạp đổ vành móng ngựa giữa chốn pháp đình uy nghiêm khiến ngay ngoại bang cũng phải giật mình cười chê còn Tòa Thánh cũng buộc phải ngó lơ, chân lý lung lay, tà mỵ huyễn hoặc hoành hành dù nhấp nha nhấp nhổm rúc chui cống đấy cống này blog nọ blog kia cũng rống loa rao truyền sứ điệp ...
Và cuối cùng, ai có thể chấp nhận việc một đại biểu quốc hội đương nhiệm lại có thể viết trên blog cá nhân của mình những lời vô cùng thô lỗ và xách mé về một ông nghị khác như thế này không:
Dương Trung Quốc quê quán tỉnh Bến Tre, sống ở Hà Nội, trình độ học vấn: tốt nghiệp đại học môn Sử, tự dưng có danh xưng “Nhà Sử Học” trên trời rơi xuống, không rõ do tự xưng hay do thuộc hạ tung hê, ắt do ở Việt Nam và trên thế giới chỉ có “Thạc sĩ” và “Tiến sĩ” mới được gắn học vị vào tên, chứ “tốt nghiệp đại học” (tức “Cử nhân”) hay “tốt nghiệp phổ thông” (tức “Tú tài”) thì theo quy định bất thành văn của thời hiện đại không được nêu ra kèm theo tên họ, nên tức mình đau mẩy phải áp cụm từ “nhà sử học” vào tên để cho có với người ta chăng.
Tôi không rõ ông Phước đã được chọn vào làm đại biểu quốc hội ra sao, nhưng chắc chắn là tôi đã không chọn ông ta làm đại diện cho mình. Và với những lời lẽ ông Phước viết hôm nay trên blog cá nhân để bình phẩm một người thật, việc thật, cùng là đại biểu quốc hội cùng khóa với mình, thì tôi cho rằng ông Phước đã tự chứng minh rằng hoặc ông là người có vấn đề về tâm thần, hoặc nếu không thì cũng có vấn đề về tư cách, và không xứng đáng làm đại biểu quốc hội đại diện cho người dân Việt Nam. Không hiểu có cách nào để một người dân Việt như tôi có ý kiến chính thức về việc này không nhỉ?
Tự nhiên tôi nhớ đến mấy câu thơ chúc Tết của Tú Xương
Bắt chước ai ta chúc mấy lời:
Chúc cho khắp hết ở trong đời,
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước,
Sao được cho ra cái giống người !

(http://www.lannhithiquan.com/tho_TTXuong.htm)

            Rồi lại nhớ đến mong ước của tôi cho nền giáo dục VN trong năm tới: chú trọng vào việc dạy người. Vâng, chỉ mong được như thế cho năm mới!
-------------------

(Theo blog AV / quechoa)
 
 

Copy từ: Bùi Văn Bồng