CHƯA TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐỜI.

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

Bệnh vô cảm và bệnh sợ hãi

Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài phỏng vấn do Trà Mi thực hiện, Nguyễn Phương Uyên, cô gái 21 tuổi được nhiều người xem như một “biểu tượng” của lòng can đảm và của tuổi trẻ, nêu lên một ý nguyện, đồng thời cũng là một tham vọng của em: “Tôi không muốn mắc phải căn bệnh rất khó trị ở các thanh niên cùng tuổi tôi. Tôi muốn làm một bài thuốc để thanh niên Việt Nam nhìn thấy mà làm hết mình, ‘cháy’ hết mình, không còn bị vô cảm và sợ hãi vốn đã bị tiêm nhiễm ngay từ bé.”


Tôi không biết hiệu quả của “bài thuốc” ấy thế nào. Nhưng tôi nghĩ Phương Uyên đã bắt đúng căn bệnh kép không phải chỉ của giới trẻ mà còn của người Việt Nam nói chung lâu nay: bệnh vô cảm và bệnh sợ hãi.
 
Bệnh sợ hãi, thật ra, là một bệnh lâu đời. Chế độ phong kiến, ở đâu cũng vậy, bao giờ cũng xây dựng quyền lực trên hai nền tảng chính: sự sùng bái và sự sợ hãi. Sự sùng bái được xây dựng trên hai nền tảng chính: tư tưởng thần quyền (nòng cốt là tư tưởng thiên mệnh) và các nghi lễ đầy tính đẳng cấp trong xã hội. Sự sợ hãi được tạo thành và được duy trì chủ yếu bằng một biện pháp chính: khủng bố. Trong các tội trạng, tội nặng nhất là tội phản nghịch. Hình phạt dành cho tội này thường là tử hình, có khi không phải tử hình một cá nhân mà còn tử hình nguyên cả một dòng họ (tru di tam tộc). Tử hình không phải chỉ nhắm đến việc giết chết tội nhân. Mà còn nhắm đến việc giết chết mọi ý đồ phản nghịch của những người còn sống bằng cách khiến họ phải sợ hãi. Do đó, người ta bày ra đủ thứ kiểu giết người, từ kiểu chặt đầu, treo cổ đến kiểu cho voi giày, ngựa xé, ném vào vạc dầu sôi, tùng xẻo, v.v.. Bởi vậy, chuyện ngày xưa dân chúng thường xuyên sống trong sợ hãi là điều dễ hiểu.
 
Sau này, chế độ cộng sản tiếp tục duy trì sự sợ hãi ấy bằng các trại cải tạo và nhà tù, hơn nữa, bằng chế độ lý lịch: Con cháu những người bị xem là phản động trở thành một thứ con ghẻ, thường xuyên bị nghi kị và kỳ thị, có thời gian, lại là thời gian khá dài, còn không được nhận vào đại học. Bây giờ, do sự phát triển của kinh tế thị trường, chế độ lý lịch ấy đã giảm đi nhiều. Tuy nhiên, hệ thống nhà tù thì vẫn dày đặc. Mà không cần nhà tù, chỉ cần sự hiện diện của công an, mọi người đã khiếp sợ.
 
Tất cả những sự khủng bố và đe dọa ấy khiến mọi người nếu không run sợ thì ít nhất cũng thu mình lại, né tránh mọi đụng chạm đến công an hoặc rộng hơn, đến chính trị, từ đó, làm nảy sinh ra một thứ bệnh khác: bệnh vô cảm.
 
Nếu sợ hãi là một căn bệnh lâu đời, vô cảm lại là một căn bệnh rất mới. Trước, hầu như không ai nói người Việt vô cảm bao giờ. Thậm chí, ngược lại, hầu như ai cũng cho người Việt sống bằng tình cảm nhiều hơn lý trí. Với tư cách cá nhân, người ta quan tâm đến nhau; láng giềng quan tâm đến nhau; cả làng quan tâm đến nhau. Chuyện một người biến thành chuyện của cả tập thể. Sự quan tâm lớn đến độ lấn át cả sự riêng tư của từng cá nhân một.
 
Vậy mà, những năm gần đây, hầu như bất cứ người nào để ý đến xã hội Việt Nam một chút, cũng đều nhận thấy ngay một hiện tượng: người ta đối xử với nhau thật vô cảm.
 
Ngoài đường, nhìn người khác bị cướp giật, hầu như mọi người đều dửng dưng; thấy có ai đó bị tai nạn nằm giãy đành đạch, phần lớn vẫn đứng trố mắt nhìn. Trồng trọt hay buôn bán thực phẩm, biết việc sử dụng nhiều hóa chất có thể gây nhiễm độc hay bệnh hoạn cho xã hội, người ta vẫn mặc kệ. Làm các dịch vụ du lịch, biết việc chụp giật hay lừa đảo có thể gây ấn tượng xấu cho cả đất nước, khiến du khách ngoại quốc khinh bỉ và không bao giờ trở lại Việt Nam nữa, người ta vẫn bất chấp.
 
Chưa hết.
Hiện tượng con cái đánh đập hoặc đuổi bố mẹ già ra khỏi nhà càng lúc càng phổ biến. Chỉ giận hờn hay cãi cọ nhau một chút là học sinh, có khi là nữ sinh, đã đánh nhau một cách tàn nhẫn. Để cướp một chiếc nhẫn, thay vì trấn lột, người ta nghĩ ra một biện pháp cực nhanh: chặt đứt nguyên cả cánh tay. Ăn trộm một con chó cũng bị cả làng xúm vào đánh chết.
 
Dù sao, ở trên cũng là những chuyện… nhỏ.
Lớn hơn là những chuyện liên quan đến số phận của cả đất nước. Việt Nam bị ô nhiễm trầm trọng ư? Người ta nhún vai: “Cái nước mình nó thế, biết làm sao được!” Nạn tham nhũng hoành hành, các công ty quốc doanh thi nhau phá sản để lại những núi nợ nần không những cho thế hệ hiện tại mà cả các thế hệ sau này nữa ư? Người ta cũng nhún vai: “Cái nước mình nó thế, biết làm sao được!”
 
Quan trọng nhất là chuyện chủ quyền. Hầu như ai cũng biết Trung Quốc đang toan tính cướp biển và cướp đảo Việt Nam, đe dọa nghiêm trọng đến mạng sống của nhiều ngư dân Việt Nam, chi phối tình hình chính trị nội bộ của Việt Nam. Ai cũng biết vậy. Nhưng phần lớn đều nhún vai: “Làm gì được?”. Rồi thôi.
 
Người Việt vẫn thường tự hào về truyền thống yêu nước, bất khuất và anh dũng của mình. Nhưng thời gian gần đây, nhìn đâu cũng thấy những cái nhún vai bất cần, kiểu sống chết mặc bay như thế.
 
Tại sao?
Lý do, thật ra, khá đơn giản. Một phần vì sợ, như đã nói ở trên. Phần khác, vì đó là chính sách của nhà cầm quyền. Dưới mọi hình thức tuyên truyền, nhà cầm quyền chỉ muốn mọi người vô cảm. Bày tỏ sự quan tâm của mình đối với chủ quyền của đất nước dưới hình thức biểu tình thì bị đạp vào mặt hay bắt thảy vào các nhà tù; dưới hình thức bài viết trên các blog thì bị vu cho tội… trốn thuế.
 
Trước, mọi nhà độc tài đều duy trì chế độ của mình trên sự sợ hãi của người dân; sau này, ngoài sự sợ hãi, người ta sử dụng một biện pháp nữa: làm cho mọi người trở thành vô cảm.
 
Tôi không biết hiệu quả của bài thuốc trị sự vô cảm và sự sợ hãi của Phương Uyên như thế nào. Nhưng ít nhất, nhìn ánh mắt, dáng dứng và những câu phát biểu của em trước tòa, cả tòa sơ thẩm lẫn tòa phúc thẩm, và đặc biệt, nhìn cả trăm người từ khắp nơi đến tham dự phiên tòa phúc thẩm của em, tôi nghĩ, ít nhất cũng có nhiều người đã vượt qua được hai căn bệnh hiểm nghèo ấy.
 
 


Copy từ: Blog Quê Choa

Tới luôn Bác Đằng



Trần Khải
Luật gia Lê Hiếu Đằng sau khi phổ biến bàì viết “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh...” bỗng nhiên rơi vào giữa một giao lộ (có thể là ngã tư, ngã sáu, hay ngã bảy) và nằm mai phục khắp các ngã đường là nhiều tay súng bắn tỉa (và dĩ nhiên, có cả đại pháo, cà nông). Vấn đề chúng ta có thể thấy l, bất kỳ đảng viên nào công khai kêu gọi lập đảng đối trọng như ông Lê Hiếu Đằng đều phải lãnh đạn bắn từ mười phương tám hướng.

Chuyện báo chí chính thống như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân... viết bài chỉ trích ông Lê Hiếu Đằng là chuyện dễ hiểu. Vì có rất nhiều người muốn gìn giữ sổ hưu cho nặng ký, bất chấp đất nước này có trôi tuột theo Biển Đông (nói về chính trị, khi Bắc thuộc thêm lần nữa) hay là sẽ bị ngập nước triều cường như Sài Gòn ngày mưa lớn (nói về kinh tế, khi các quả đấm thép của chính phủ giộng vào mặt nhân dân thêm nhiều quả nợ xấu)...

Cũng có nhiều người nghi ngờ lòng ông Lê Hiếu Đằng bất trắc (hay là chụp mũ? Cũng là sương mù khó hiểu). Nhưng thực sự, ông Lê Hiếu Đằng cũng mấp mé 80 tuổi rồi. Lòng ông có bất trắc là bất trắc với ai?
Có phải Luật gia Lê Hiếu Đằng muốn mời gọi mọi người ghi tên vào Đảng Dân chủ Xã hội mới thành lập để sẽ lộ danh sách đảng viên cho CSVN bố ráp? Không, thời này không có gì bí mật nữa. Cái mà chúng ta tưởng bí mật, thực ra công an vẫn ngày đêm quan sát, theo dõi, nghe lén điện thoại, tìm đọc email – nếu không nghe được 9 phần, thì cũng 5 phần. Và công an có thể đoán rằng những bước đi của ông Lê Hiếu Đằng tất nhiên phải như thế, không thể khác hơn.

Và những việc ông Lê Hiếu Đằng, một người có 45 tuổi Đảng CSVN, làm trong những năm gần đây, cho thấy ông không hề làm gì bí mật. Tất cả các lá bài đều lật ngửa hết. Không giấu bài, không chơi gian, không nói lận (nghĩa là, trái hẳn với những người Cộng Sản mà dân mình ưa nói theo TT Thiệu là đừng tin những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm).

Khi phản đối Trung Quốc lấn biển, ông Lê Hiếu Đằng cùng nhiều nhà trí thức xuống đường, biểu tình chống TQ. Khi công an tấn công, vây bắt, đàn áp... ông Lê Hiếu Đằng liền trả lời phỏng vấn trên Đài VOA ngày 12-12-2012 rằng, "Việt Nam vi phạm nhân quyền khi trấn dẹp biểu tình chống Trung Quốc".

Rõ ràng, ông Lê Hiếu Đằng là một mô hình đi trước, bằng những bước chân xuống phố và các biểu ngữ chống Tàu cầm theo. Ông và các trí thức lão niên lúc đó chỉ đi được mấy khu phố Sài Gòn và Hà Nội, không hô khẩu hiệu vang xa nổi, nhưng cũng bị công an đàn áp thê thảm – lúc đó, nhà thơ Nguyễn Quốc Thái bị côn đồ đưa chân đạp cho té xe, làm tai nạn giả để bắt về đồn công an Quận 3 ở tới chiều ngày 9/12/2012 mới cho về.

Ông Đằng kể lại, và bản tin trên Đài BBC ngày 10-12-2012 ghi nhận, trích:

“Một loạt nhân sĩ, trí thức ở TP. HCM công khai chỉ trích chính quyền thành phố “bắt bớ, trấn áp, bao vây” những người dẫn dắt cuộc biểu tình sáng Chủ nhật 9/12.”
Ông Lê Hiếu Đằng, từ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và ông Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, nói họ đã bị công an “trấn áp thô bạo”.
Hành động lên án của hai người gây chú ý trong dư luận vì đây đều là những người nhiều năm gắn bó với Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong thư đăng trên mạng internet, ông Lê Hiếu Đằng, từng là Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc TP. HCM, nói ông muốn “tố cáo trước công luận trong và ngoài nước hành động bắt bớ, trấn áp, bao vây các thành viên đứng tên trong thông báo tổ chức cuộc mít tinh vào sáng ngày Chủ nhật”...
Ông nói GS. Tương Lai “đã bị công an phường Tân Phong, Q7 dùng vũ lực cưỡng ép bắt về phường và sau đó truy đuổi đến tận nhà.”
“Đây là một hành động trấn áp vô nhân đạo đối với một trí thức đã có nhiều cống hiến như GS. Tương Lai, lại đang bị bạo bệnh”.
Theo ông Lê Hiếu Đằng, bản thân ông cùng các ông Hồ Ngọc Nhuận, Lê Công Giàu, Cao Lập “đã bị lực lượng công an chìm nổi bao vây không cho ra khỏi nhà.”
Ông Đằng dẫn thêm tên một số người khác mà theo ông “trên đường đi đều bị công an chặn lại, dùng vũ lực khống chế áp tải về đến tận nhà…” (hết trích).

Trong khi các trí thức lão niên gần như bị quản thúc tại gia như thế, các bạn trẻ đã có những bước tiếp nối tuyệt vời, vượt qua cả biên giới lãnh thổ. Các bạn trẻ đã đi tới Bangkok, tới Singapore, tới Kuala Lumpur... trong cương vị đại diện cho Mạng Lưới Blogger Việt Nam để nói lên những gì mà đồng bào không được nói.
Nếu nói rằng ông Lê Hiếu Đằng muốn lập “đảng cuội” để gài bẫy, là xem thường giới trẻ quá. Họ thuộc thế hệ mới, ngay cả khi có vào bất kỳ đảng tân lập nào đi nữa, thì đảng mới đó sẽ là đảng của họ, với suy nghĩ và cách hành động rất riêng của họ. Và họ làm những việc đó công khai, theo kiểu riêng của họ.

Nếu ông Lê Hiếu Đẳng lập đảng, chắc chắn bản cương lĩnh đảng sẽ không do ông hay thế hệ của ông soạn thảo nữa. Đó là điều nên thấy. Và dĩ nhiên, phương pháp làm việc của Đảng Dân chủ Xã hội (nếu tồn tại được) cũng sẽ do các thế hệ trẻ hơn thực hiện. Và có thể, họ sẽ lập một đảng thứ 3, vì họ là những người suy nghĩ độc lập, và đã hành động rất mực sáng tạo – như họ đã chứng tỏ được.

Hãy nhớ rằng, nhiều tháng trước khi ông và trí thức bị đàn áp như nêu trong sự kiện trên, ông Lê Hiếu Đằng vào ngày 13-6-2012 đã trả lời phỏng vấn trên Đài RFA, kêu gọi Quốc hội CSVN công nhận quyền sở hữu đất của người dân, và đặc biệt ông nêu lên tình hình cơ nguy Bắc thuộc thấy rõ. Ông trả lời cô Quỳnh Chi của RFA lúc đó, trích:

“Quản lý Nhà nước tôi thấy buồn cười là người Trung Quốc đến làm bè để nuôi cá rồi sau đó rút đi mà cũng không ai biết. Theo chủ trương hiện nay, người đứng đầu Nhà nước phải chịu trách nhiệm. Nhất là việc Trung Quốc đi vào Việt Nam từ vùng rừng núi cho đến Cà Mau, rồi bây giờ đến Cam Ranh thì nguy cơ độc lập dân tộc bị đe dọa hết sức lớn.
Dân rất lo nhưng các vị lãnh đạo có lo không? Bởi trong lực lượng Trung Quốc vào Việt Nam có bao nhiêu là dân sự? bao nhiêu quân sự? tình báo? Những việc này phải kiểm điểm một cách nghiêm túc, nhất là bộ Quốc phòng, bộ Công an. Trong khi dân biểu tình yêu nước thì lại đàn áp còn những việc đó thì không để ý...”(hết trích)

Còn lời kêu gọi đa nguyên, đa đảng đã được ông Lê Hiếu Đằng nói từ lâu rồi, đâu có phải chỉ khi viết lên gần đây.
Ông Lê Hiếu Đằng đã nói trên Đài RFI vào ngày 15-11-2012 qua bài phỏng vấn được đài này đặt tựa đề rất minh bạch là “Luật gia Lê Hiếu Đằng: Thay đổi thể chế để tránh một vị Nguyễn Tấn Dũng khác”.
Ông Đằng nói thẳng như thế, không quanh co gì hết. Ông chấp nhận bị xe tông, bị côn đồ mai phục... Bài phỏng vấn trên RFI lúc đó nêu rất rõ, không xu nịnh, không đánh cuội, mà chỉ thẳng vào ung nhọt là thể chế chính trị. Ông Đằng nói, trích như sau:

“...Vấn đề ở chỗ «lỗi hệ thống». Nếu muốn không có một vị Nguyễn Tấn Dũng nữa với những thiếu sót đó, thì phải thay đổi thể chế. Ở đó phải thực hiện được những quyền dân chủ của người dân, Quốc hội cho ra Quốc hội, Mặt trận và các đoàn thể cho ra Mặt trận và các đoàn thể, và xây dựng ba vấn đề.
Một là Nhà nước pháp quyền, hai là xã hội dân sự, và ba là nền kinh tế nhiều thành phần. Thì tự nhiên xã hội sẽ lành mạnh, theo xu hướng tiến bộ hiện nay là dân chủ xã hội. Đó là khuynh hướng không thể nào cưỡng lại được đâu. Dù có muốn ngăn chận, nhưng đó là xu hướng tiến bộ của loài người.
Chứ còn nếu muốn chống tham nhũng mà không tam quyền phân lập, rồi ruộng đất thì vẫn nói là sử hữu toàn dân, thì sẽ tiếp tục tham nhũng. Nhất là trong vấn đề ruộng đất...” (hết trích).
Do vậy, rất dễ hiểu sau khi có bài viết "Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh" đó, chúng ta thấy ngay bài viết “Phá xiềng” của ông Hồ Ngọc Nhuận.

Đừng nói rằng ông Lê Hiếu Đằng đối lập cuội. Xin nhớ rằng, Đảng CSVN không bao giờ muốn có những lời trả lời phỏng vấn nói thẳng, nói thật như thế trên RFI, RFA, VOA, BBC như ông Đằng đã nói.

Ông không tìm lời khéo như những người khác. Ông đã một thời là thuốc đắng của chế độ VNCH, và bây giờ, dưới mắt CSVN, ông cũng trở thành một liều thuốc đắng khác cho nhà nước toàn trị Hà Nội.

Lịch sử sẽ dễ dàng quên đi những Nguyễn Phú Trọng, những Trương Tấn Sang, những Nguyễn Tấn Dũng, nếu nhóm Trọng-Sang-Dũng vẫn cứ ì ra như thế này... nhưng những người như Lê Hiếu Đằng, như GS Tương Lai, như nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, như các vị giáo sư ở trang Bauxite VN, và như giới trẻ trong Mạng Lưới Blogger Việt Nam sẽ có một vị trí độc đáo trong lịch sử.

Hãy nhớ, cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Châu Trinh không phải là những người thành công. Sự nghiệp của 2 cụ Phan bị dở dang. Nhưng vị trí của 2 cụ là bất tử, hơn xa rất nhiều người dám tự nhận là “thành công trong lịch sử”...

Bây giờ, người ta cũng không nhiều hy vọng ông Lê Hiếu Đằng có thể có thành công vang dội nào. Ông không giữ quyền lực như Gorbachev; điều này ai cũng thấy. Nhưng bây giờ đã thấy, đang thấy và sẽ thấy những người nối tiếp...

Tới luôn bác Đằng. Bác Đằng năm ngoái đã chỉ đi được vài bước ngắn, những bước đã suy yếu của tuổi già và suy bệnh, trên phố Sài Gòn... nhưng bác đã là cảm hứng cho những ngưòi trẻ tìm ra những bước đi riêng, vượt ra cả ngoài tầm tiên đoán của công an.

Tới luôn bác Đằng. Bác Đằng năm nay đã không đi bộ nổi nhưng đã có một kiểu nằm rất là độc đáo, nằm bịnh – nhưng đủ sức để làm cho toàn Đảng CSVN phải nhức đầu kinh hoảng, phải cho bắn tỉa, phải mai phục tứ phương.

Tới luôn bác Đằng. Dân tộc đang quan sát và chờ đợi những người như bác. Và hãy tin là sẽ có rất nhiều người đi tiếp bước chân của bác.

T.K.

Tác giả gửi trực tiếp cho: Bauxite Việt Nam


..........................

Đàng hoàng hơn

 
Hồ Ngọc Nhuận
Trên thế giới ai cũng biết: một nền dân chủ pháp trị đích thực, với một Nhà nước pháp quyền đích thực, là một nền dân chủ đặt luật pháp lên trên hết, trên mọi người và trên mọi quyền bính, tất nhiên và trước hết là trên người lãnh đạo cầm quyền, vì phải làm gương. Trừ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, vì Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo ở đây tự vẽ ra Hiến pháp, cầm điều 4 HP làm bùa chủ đạo, để ngồi xổm trên luật pháp. 

Trong một nền dân chủ pháp trị ai cũng biết: “Điều gì luật pháp không cấm thì người dân có quyền làm”. 

Nhưng trước hết, người dân còn phải làm những điều luật pháp kêu làm. 

Như làm ăn thì luật pháp kêu phải đóng thuế. Làm trai thì luật pháp kêu phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Làm người chiến sĩ trong quân đội thì phải trung thành với Tổ quốc… Ở đâu cũng vậy. 

Nhưng ở Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì có khác. Ở đây đi lính, nhất là ở cấp chỉ huy, thì phải trung thành với Đảng lãnh đạo. Còn luật pháp vẽ ra để đó chớ không hẳn để thi hành. Hay chỉ thi hành theo các Ban Chỉ đạo của Đảng, có mặt ở mọi cấp mọi nơi, trước hết là ở ngành Tư pháp, đặc biệt tập trung trong tay Ban Nội chính của Đảng, từ trung ương đến cơ sở, để tập trung chỉ đạo không chỉ các bộ phận có liên quan như công an, giám sát hay tòa án, mà cả từng vụ án lớn nhỏ. Với những bản án đã được định sẵn. 

Như về báo chí, miệng thì nói tự do báo chí, luật thì viết báo chí tự do, nhưng đốt đuốc cũng không tìm đâu ra một tờ báo tư nhân, mà toàn là báo của các ban ngành đoàn thể của Đảng và Nhà nước, từ trung ương đến các địa phương. Đứng đầu mỗi tờ báo, mỗi Ban Biên tập báo phải là một đảng viên Cộng sản, có mấy trăm tờ báo là có mấy trăm đảng viên Tổng Biên tập, có bao nhiêu Ban Biên tập là có bấy nhiêu đảng viên trưởng ban, dù là báo cho trẻ con hay người lớn, dù là báo chí văn hóa văn nghệ, thể thao du lịch, làm ruộng,làm ăn buôn bán, hay vui chơi giải trí… Chưa kể hàng trăm đảng viên lớn nhỏ khác trong hàng ngũ các báo. Tất cả làm thành hội nhà báo, chia thành nhiều phân hội nhà báo, đứng đầu là những ông bà đảng viên Cộng sản có vai vế nhất. Còn báo nói và báo hình, đương nhiên cũng là thành viên của Hội Nhà báo, nhưng là thành viên công cụ chuyên chính hàng đầu của Đảng. 

Báo chí tự do ở đây là như vậy đó, có thêm mấy chữ “xã hội chủ nghĩa” hay không cũng vậy. 

Ở đây luật viết tự do lập hội, nhưng từ hội to hội nhỏ, cả hội làm vườn, nuôi chim nuôi cá, hay hội người mù, người già, người khuyết tật, hay hội đi chơi đi bộ… phần lớn cũng phải do một đảng viên Cộng sản đứng đầu làm hội trưởng. Có ông đảng viên “cỡ bự”, đi đứng đã khó huống hồ chạy bộ, nhưng cũng là hội trưởng hội điền kinh. 

Ở đây, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, trên mọi lãnh vực, là “nói một đường làm một nẻo”. 

Ở đây Quốc hội, được nói, được viết là nơi đại biểu cho quyền làm chủ của nhân dân, nhưng được Đảng Cộng sản chia nhau làm chủ rất kỹ. Tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội phải là đảng viên. Có đảng viên được cơ cấu chánh thức để được đắc cử, có đảng viên được cơ cấu để lót đường, không chịu cũng phải chịu, không được chạy, không được la, bởi ai biểu làm đảng viên. Các đảng viên lót đường này ngày càng cần, vì các ứng cử viên “tự ứng cử” ngày càng thưa, sau khi bị nhiều áp lực phải tự rút. Phải có đảng viên ứng cử thuộc loại lót đường vì phải có ít nhất hai ứng cử viên cho một ghế đại biểu, hay ba ứng cử viên cho hai ghế đại biểu. Để “coi cho được”, mà vẫn có phiếu “tập trung”. Không như “thuở ban đầu không cần e ấp ấy”, chỉ một ứng cử viên duy nhất cho một ghế đại biểu, để có phiếu tuyệt đối tập trung, nhưng mà “coi không được”. Số ứng cử viên “tự ứng cử”, tức không do Đảng Cộng sản đề cử, thường rất ít ỏi, lại bắt phải qua hai nấc lựa chọn sơ khởi là ở tổ dân phố nơi mình ở, và ở cơ quan nơi mình làm việc. Như vậy người dân hai nơi đó được biến thành cử tri hạng nhất được quyền “tín nhiệm” hay “không tín nhiệm” trước đa số các cử tri khác dựa vào mấy “tiêu chuẩn của người đại biểu Quốc hội” được ghi trong luật bầu cử, như “phải trung thành với Tổ Quốc”, “phải tôn trọng luật pháp”, hay “ phải sâu sát với cử tri”… Đó là những tiêu chuẩn phổ quát cơ bản mà mọi công dân bình thường lương thiện đều đạt, trước khi có những bằng chứng cụ thể ngược lại, chớ không riêng gì của các đại biểu Quốc hội. Còn tiêu chuẩn “sâu sát với cử tri” thì người tự ứng cử đương nhiên phải đạt hơn ai hết, bởi có ai sâu sát hơn khi nhà người ta đang ở đó, khi người ta đang làm việc ở đó? Những điều luật mị dân hết chê nổi. Vậy mà số ứng cử viên “tự ứng cử” cứ rụng như sung bị sâu. Trước hết là tự rút, vì không chịu nổi chuyện nhà chuyện cửa, chuyện con chuyện cái, có khi là chuyện con chó của nhà mình bị người ta đưa ra làm đề tài mổ xẻ… khi bị tổ chức đưa ra bình chọn ở tổ dân phố. Nếu không tự rút thì cũng có người của Mặt trận đến vận động, áp lực để rút. 

Nút chặn then chốt là Mặt trận mà luật bầu cử viết hẳn là có quyền lựa chọn trước khi đưa ra cho cử tri bầu cử – một Mặt trận mà một 100% thường trực lãnh đạo, từ cấp trên đến cấp dưới là đảng viên Cộng sản. Kèm bên là một Đảng Đoàn Mặt Trận. Kèm trên là một Ban Dân vận Mặt trận. Rồi Đảng ủy Khối, Đảng ủy cơ quan…cho tới Đảng ủy thành, Đảng ủy tỉnh, Đảng ủy trung ương… Tất cả gộp lại làm thành một “thiên la địa võng” để chận bất cứ ai không là người của Đảng, không do Đảng cắt cử, để Đảng tha hồ một mình một chợ ở Quốc hội.
Cái Quốc hội ”một mình Đảng một chợ” đó được tổ chức như một “Đại hội các loại cán bộ, viên chức của Đảng và Nhà nước”. Trong đó có nhiều hạng, trên hết là hạng đại biểu là thành viên Bộ Chánh trị, hay ủy viên Trung ương Đảng, chót hết là lưa thưa vài cụ thuộc vài tôn giáo lớn được cơ cấu vô Quốc hội để làm đại biểu danh dự. Ngồi yên đó để vỗ yên đồng đạo và bá tánh. 

Các thành viên của cái “Đại hội các loại cán bộ viên chức của Đảng và Nhà nước”, được gọi là Quốc hội đó, tất nhiên là không phân chia theo từng khối nhóm đại biểu cho các nhóm quyền lợi hay khuynh hướng chánh trị ngoài xã hôi, mà được phân ra từng đoàn theo các tỉnh thành nơi họ cư trú, ứng cử và đắc cử. Trưởng đoàn đại biểu, nếu không là người đứng đầu đảng hay chánh quyền, thì cũng là một đảng viên có vai vế nhất nhì trong Đảng ở địa phương, để phát ngôn, phát biểu thay đoàn hay chỉ định người phát biểu ở các diễn đàn Quốc hội, hay khi tiếp xúc cử tri được tổ chức định kỳ một năm vài lần. Không ai được phép xé rào, và trên thực tế chưa thấy ai dám xé rào…

Với một Quốc hội như vậy, độc có tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội là đảng viên của một độc đảng, tổ chức có hạng bậc trên dưới chặt chẽ, với kỷ luật thép của Đảng Cộng sản, thì thảo luận ở Quốc hội là gì? Với kỷ luật thép của Đảng, khi một chỉ thị nghị quyết của Đảng đã được ban ra thì mọi phê bình đối với quyết định đó đều bị coi là phá hoại chệch hướng. Các quyết định của Đảng thường là áp đặt từ trên xuống, đặc biệt từ một nhóm nhỏ gọi là Bộ Chánh trị, có khi chỉ từ vài người có thế lực trong Bộ Chánh trị. Vì vậy đại bộ phận các đảng viên có nói gì, bàn gì, cũng không hề ảnh hưởng gì đến quyết định của lãnh đạo Đảng, mà lãnh đạo Đảng cũng không hề biết, không cần biết tâm tư ý kiến của quần chúng đảng viên. Càng không cần biết tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân. 

Một Quốc hội như vậy thường được gọi là một “hòm thư”. Nhưng “hòm thư” ở đây bị rỗng, vì nguyện vọng nhân dân đã bị chận từ ngoài cổng. Hoặc bị công an rượt đuổi từ ngoài đường, tận cổng các tòa án. 

Trong tình hình như vậy mà lãnh đạo Đảng, cũng là lãnh đạo Quốc hội, lãnh đạo Chánh phủ, ký kết với bất kỳ ai, cả với Bắc Kinh hay với quỷ, bất cứ thứ gì rồi đưa ra cho các đại biểu Quốc hội thông qua thì có trời mà biết đó là cái gì…

Tôi là một thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 1975 đến nay tổng cộng là 38 năm. Trong đó có 24 năm, từ 1975 đến 1999, là không có luật, và 14 năm, từ ngày 12 thang 6 năm 1999 đến nay, là có luật, gọi là “Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”. Nên tôi xin nói một chút về Luật Mặt trận. 

Mặc dầu có Luật Mặt trận hay không có Luật Mặt trận thì cũng vậy thôi, cũng không ai thấy Mặt trận làm gì cho dân, ngoài việc cũng có một guồng máy đồ sộ từ trung ương đến địa phương cơ sở, song song với guồng máy đồ sộ của Nhà nước, song song với guồng máy đồ sộ của Đảng, cùng chia nhau xài chung ngân sách nhà nước, tức từ tiền thuế của nhân dân, để cùng làm nhiều việc của các hội đoàn xã hội từ thiện tư nhân, ngoài các việc do Đảng và Nhà nước giao, như lập hồ sơ và sàng lọc các ứng cử viên vào Quốc hội hay các Hội đồng. Và Ban Thường trực Trung ương Mặt trận thì định kỳ ngồi ký các văn kiện gọi là “liên tịch” với Chánh phủ để định kỳ tổ chức mần liên tịch tiếp. 

Còn về “nhiệm vụ chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân” như được ghi ở Điều 2 của Luật Mặt trận thì không ai thấy “mặt ông Mặt trận” ở đâu hết, khi nông dân nhiều nơi bị cướp ruộng kêu cứu, khi công nhân nhiều nơi bị hà hiếp đình công “la làng”, khi người dân kêu gọi biểu tình chống bọn bành trướng Bắc Kinh cướp đảo, rượt bắt ngư dân nước ta, hay khi thanh niên sinh viên học sinh yêu nước đấu tranh bị đàn áp. 

Hay về “nhiệm vụ giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước” cũng được ghi hẳn hòi ở Điều 2 của Luật Mặt trận, cũng không ai thấy tổ chức Mặt trận giám sát được gì từ mấy chục năm nay. 

Nếu đã giám sát được ai hay chút gì, trong 38 năm qua, thì đâu đến nỗi ông Tổng Bí thư Đảng lãnh đạo cầm quyền phải “ngậm ngùi”, hay ông Chủ tịch nước phải ngập ngừng không thể nói ra, trước những sai phạm to đùng nào đó trong giới lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nứớc?

Tại sao Mặt Trận lại cứ ngó lơ trước những nhiệm vụ của mình được ghi rành rành trong Luật Mặt trận?

Bởi khi khơi khơi nêu hết nhiệm vụ này đến nhiệm vụ khác, mà không giao quyền, không giao phương tiện, thể hiện bằng luật pháp, để thi hành nhiệm vụ, thì chỉ để chơi thôi. Cả khi nêu lên quyền này quyền khác mà không có phương tiện luật pháp đi kèm để thực thi thì cũng như vô quyền. Như những quyền tự do cơ bản của người dân được ghi trong Hiến pháp mà không pháp chế hóa để bảo đảm thi hành thì coi như treo đó để phỉnh người dân mà thôi. Không chỉ phỉnh mà còn ngăn chận, bao vây, đàn áp, như khi người dân sử dụng quyền biểu tình hợp pháp bất bạo động để chống bành trướng Bắc Kinh. 

Mặt trận còn làm ngơ một điều cơ bản nữa mà Luật Mặt trận ngay từ điều 1 đã kêu làm.
Tức là “phát huy quyền làm chủ của nhân dân… để góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. 

Nhưng điều đặc biệt quan trọng nhất là người ta đã nuốt dần lời hứa “Đánh thắng giặc ta sẽ xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, tốt đẹp hơn”. Mà chỉ nghe thấy kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội, rồi theo định hướng xã hội chủ nghĩa… Cả hai thứ đều không hề thấy ở đâu, cả ở nơi mà cái nôi xã hội chủ nghĩa cũng đã bị vất từ lâu, trừ vài nơi người dân vừa bị đeo gông vừa hô khẩu hiệu “hoan hô lãnh tụ cha, lãnh tụ con, lãnh tụ cháu nội”. 

Bởi không thể xây dựng tốt đẹp hơn, nếu không xây dựng đàng hoàng hơn. Và xây dựng đất nước đàng hoàng hơn là xây dựng một nền dân chủ đích thực, tức một hệ thống chánh trị tôn trọng sự công chính trong cạnh tranh quyền lực, tôn trọng tiếng nói, dư luận, tôn trọng phán quyết tối hậu của người dân bằng lá phiếu để có sự luân chuyển hay thay đổi quyền hành trong hòa bình, tôn trọng sự khác biệt chính kiến, sự khác biệt của người khác, có văn hóa tranh luận. 

Bịt miệng, chụp mũ, trù úm, đàn áp… là tiếp tục không đàng hoàng, là làm ngược, là phản lại chính ông cha mình…Không thể có xây dựng đàng hoàng mà bóp chết tự do. 

Khởi xướng, hay kêu gọi xây dựng dân chủ có đối lập, trong một xã hội dân sự tôn trọng quyền con người, có tình người, chính là tiếp nối lời kêu gọi xây dựng đất nước đàng hoàng hơn. 

Đó không chỉ đơn thuần là một tổ chức chính đảng. Đó trước tiên là tinh thần dấn thân nhập cuộc, mở ra một con đường cho dân tộc thoát khỏi vòng xoáy của một hệ thống quyền lực luôn đe dọa mọi ý chí độc lập bằng bạo lực, sớm muộn sẽ đưa đất nước xuống hố diệt vong. Đó là một phong trào tập hợp mọi nỗ lực thiện chí muốn cống hiến cho đại cuộc, vì một nền dân chủ tự do độc lập thật sự cho Tổ quốc, cho nhân dân.
Từng sống qua mấy chế độ khác nhau của miền Nam, từng biết qua ít nhiều vài chế độ dân chủ đây đó gần xa, tôi không hề có ảo tưởng về một chế độ dân chủ tuyệt đối, một hệ thống chánh trị tuyệt hảo ở bất cứ đâu. 

Nhưng không thể không có tiếng la báo động trước sự mất còn của đất nước. Một hệ thống ngày càng chồng chất những cái không lương thiện, lại thêm lồng ghép với những nhen nhóm xã hội đen tối, kể cả mafia, ở đâu đó, là một vòng xoáy tàn khốc khó thoát đối với mọi người, mọi dân tộc. 

Cái hệ thống của những điều không đàng hoàng gần như toàn diện hiện nay, nếu không sớm được thay đổi bằng một hệ thống dân chủ đích thực, sớm muộn sẽ đưa đất nước đến hố diệt vong, chắc chắn sẽ sớm đưa đến mất nước vào tay bành trướng Trung Quốc. Cái đáng sợ nhất là nó đánh mất linh hồn con người, linh hồn Việt Nam. 

Đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta, dân tộc Việt Nam thân yêu của chúng ta đã chịu nhiều “cải biến” quá rồi, đã đổ nhiều máu và nước mắt quá rồi. Và thế giới, trong đó có dân ta, đã kinh qua đủ thứ cách mạng rồi. Nên không có cách nào khác, nếu muốn sống còn, là tổ chức hợp tác bình đẳng giữa những con người tự do biết tôn trọng lẫn nhau./.

26-8-2013
H. N. N.

Tác giả trực tiếp gửi cho Bauxite Việt Nam


............................

Sếp ngành thoát nước lương 2,6 tỷ


Mặc dù là đô thị lớn, cơ sở hạ tầng của TP HCM vẫn thuộc dạng yếu kém
Ủy ban Nhân dân TP HCM vừa có kết luận về sai phạm đối với chế độ tiền lương tại bốn công ty công ích của thành phố.
Bốn công ty bị kết luận sai phạm bao gồm: Công ty Thoát nước Đô thị, Công ty Công trình Giao thông Sài Gòn, Công ty Chiếu sáng Công cộng và Công ty Công viên Cây xanh.
Kết luận của UBND TP HCM được các báo trong nước trích dẫn ngày 27/8 cho thấy lãnh đạo các công ty này đang được hưởng mức lương cao bất thường, trong đó cao nhất là của giám đốc của Công ty Thoát nước đô thị, với mức lương đến 2,6 tỷ đồng/năm (122.000 đôla Mỹ).
Trường hợp của giám đốc Công ty Chiếu sáng Công cộng, mức lương cũng cao không kém, ở mức 2,2 tỷ đồng/năm.
Các giám đốc hai công ty còn lại, Công ty Công trình Giao thông Sài Gòn và Công ty Công viên Cây xanh, có mức lương lần lượt là 856 triệu và 853 triệu đồng/năm.
Kết luận của UBND TP HCM nhận định: “Việc chi lương cho giám đốc doanh nghiệp công ích cao bất thường và hơn nhiều lần so với người lao động mùa vụ”, báo trong nước trích dẫn.
“Ðơn cử, thu nhập của giám đốc Công ty TNHH MTV Thoát nước đô thị cao gấp 41 lần so với lương của người lao động mùa vụ.”

Lương cao bất thường

  • Giám đốc Công ty Thoát nước đô thị: 2,6 tỷ đồng/năm
  • Giám đốc Công ty Chiếu sáng Công cộng: 2,2 tỷ đồng/năm.
  • Giám đốc Công ty Công trình Giao thông Sài Gòn: 856 triệu đồng/năm
  • Giám đốc Công ty Công viên Cây xanh: 853 triệu đồng/năm.
UBND TP HCM cũng cho biết các công ty nói trên ngoài ra còn có nhiều sai phạm về luật lao động, trong đó có việc ký hợp đồng lao động thời vụ với hàng trăm lao động thường xuyên, hoặc ký hợp đồng có thời hạn với hàng trăm trường hợp đủ điều kiện ký hợp đồng không xác định thời hạn.
Theo kết luận của UBND, các công ty này sẽ phải hoàn lại khoản tiền tổng trị giá hơn 6,3 tỷ đồng đã sử dụng để trả lương, tiền thưởng sai quy định cho các viên chức quản lý, đồng thời phải có hình thức “khắc phục hậu quả để khôi phục quyền lợi của người lao động”.
Mức lương cao bất thường của lãnh đạo các công ty công ích tại thành phố Hồ Chí Minh dường như trái ngược với tình trạng cơ sở hạ tầng yếu kém của thành phố Hồ Chí Minh, với nhiều con đường bị sạt lở và tình trạng mất điện vào mùa khô, ngập nước vào mỗi mùa mưa.

Kiểm soát thu nhập

Liên quan đến vấn đề thu nhập của công chức nhà nước, hiện nay Thanh tra Chính phủ tại Việt Nam đang xây dựng đề án kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.
Đề án này được đưa ra nhằm kiểm soát ba nhóm thu nhập chính của người có chức vụ, quyền hạn trong nhà nước, bao gồm:
  • Thu nhập từ ngân sách nhà nước như lương, phụ cấp
  • Thu nhập chịu thuế và không chịu thuế thu nhập cá nhân như giao dịch chuyển nhượng bất động sản, kinh doanh …
  • Thu nhập từ quà tặng, biếu, tiền thường, hoa hồng.
Một trong những điểm đáng chú ý của đề án này, đó là quy định chi tiêu từ 200 triệu đồng phải được thanh toán qua tài khoản ngân hàng.
Cũng theo đề án này, thông tin về thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn sẽ được tích hợp từ khi người này bắt đầu hoạt động ở cương vị được bổ nhiệm hoặc tuyển dụng cho đến khi nghỉ hưu.


Copy từ: BBC

Tuyên bố chung của Liên minh Tự do Trực tuyến về Nghị định 72 của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Tuyên bố của Marie Harf, Phó Phát ngôn viên: Tuyên bố chung của Liên minh Tự do Trực tuyến về Nghị định 72 của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Văn phòng Phát ngôn viên
Dành cho đăng tải ngay
Ngày 26 tháng 8 năm 2013
2013/2034
Liên minh Tự do Trực tuyến quan ngại sâu sắc về Nghị định 72 mới công bố của Việt Nam, theo đó sẽ áp đặt thêm những hạn chế đối với cách thức truy cập và sử dụng Internet ở Việt Nam khi nghị định có hiệu lực ngày 1 tháng 9. Ví dụ, Nghị định 72 hạn chế luồng thông tin trực tuyến và giới hạn việc chia sẻ một số loại tin tức và ngôn luận khác. Nghị định 72 dường như không phù hợp với nghĩa vụ của Việt Nam đối với Công ước Quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị, cũng như các cam kết của họ đối với Tuyên ngôn Nhân quyền.
Nghị định 72 có nguy cơ làm tổn hại đến nền kinh tế của Việt Nam với việc hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp ở Việt Nam, hạn chế sự đổi mới, và làm chùn bước đầu tư nước ngoài. Mạng Internet cởi mở và tự do là điều thiết yếu đối với một nền kinh tế hiện đại, vận hành hoàn chỉnh; các văn bản luật hạn chế sự công khai và tự do như Nghị định 72 tước khỏi các nhà sáng tạo và các doanh nghiệp các công cụ cần và đủ để cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay.
Liên minh Tự do Trực tuyến lưu ý rằng nghị quyết 20/8, được Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhất trí thông qua vào tháng 7 năm 2012, khẳng định rằng nhân quyền được áp dụng cả trên mạng cũng như trong cuộc sống thực. Liên minh Tự do Trực tuyến kêu gọi Chính phủ Việt Nam sửa đổi Nghị định 72 để văn bản này thúc đẩy khả năng thực thi quyền con người của các cá nhân, bao gồm cả quyền tự do ngôn luận.
Liên minh Tự do Trực tuyến là một nhóm liên khu vực gồm 21 chính phủ hợp tác để đẩy mạnh tự do Internet trên toàn thế giới. Liên minh mang lại một diễn đàn để các chính phủ cùng chí hướng phối hợp các nỗ lực và làm việc với xã hội dân sự và khu vực tư nhân để hỗ trợ cho khả năng thực hiện quyền con người và các quyền tự do trực tuyến cơ bản của các cá nhân.
Liên minh Tự do Trực tuyến được thành lập tại một cuộc họp do Chính phủ Hà Lan tổ chức vào năm 2011, và liên minh đã tổ chức thêm các cuộc họp ở các nước chủ nhà là Kenya vào năm 2012 và Tunisia trong năm 2013. Chính phủ Estonia, Chủ tịch Liên minh, sẽ tổ chức các hội nghị tiếp theo vào mùa xuân năm 2014.
(hết tuyên bố)


Copy từ: Bauxite Việt Nam