CHƯA TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐỜI.

Hiển thị các bài đăng có nhãn KINH TẾ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KINH TẾ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014

Nợ xấu đừng bắt dân phải “gánh”

"Nợ xấu là hậu quả cách làm ăn của doanh nghiệp, ai làm nấy chịu chứ không thể bảo dân trả nợ thay doanh nghiệp được", TS Nguyễn Minh Phong chia sẻ.
Lúc có thì ăn một mình
- Có người bảo, cứ đóng cửa hết doanh nghiệp có nợ xấu mà không xử lý được thì không ai dám để xảy ra nợ xấu nữa, ông nghĩ sao?
- Thực ra như tôi đã nói, để giải quyết nợ xấu thì phải dùng tổng hợp nhiều biện pháp khác nhau. Không thể coi nợ xấu nói chung giống nhau hết. Doanh nghiệp lúc có thì ăn một mình, lúc chết thì kéo mọi người cùng chết theo là không được. 
- Hậu quả của nợ xấu tác động thế nào đến nền kinh tế?
- Tôi phải nói thẳng rằng hiện nay chúng ta còn chẳng hiểu rõ nợ xấu nó như thế làm sao, ở cấp độ nào, chẳng ai dám nhìn vào sự thật, chẳng ai đứng ra chịu trách nhiệm chung cả. Chính phủ phải có một đợt tổng kiểm kê nợ xấu, về tổng nợ xấu thực, tìm nguyên nhân và giải pháp thì mới khắc phục được. Chứ bây giờ người ta cũng chỉ kêu ầm lên như thế thôi mà không ai có thể khẳng định chắc chắn tổng nợ xấu là bao nhiêu cả. Người này người kia nói những con số vênh nhau đến cả chục lần mà đâu có ai kiểm chứng được.
- Người ta nói nợ xấu là "cục máu đông", với tình trạng này thì bao giờ cục máu đông ấy mới tan?
- Ngoài giải pháp từ nhà nước, bản thân các doanh nghiệp phải tự cố gắng lên chứ không nên bị động, mong chờ những giải pháp cứu trợ. Nếu doanh nghiệp không đủ sức thì phải cho phá sản chứ không cần cứu trợ nữa. Lâu nay, chúng ta vẫn sử dụng cụm từ "lỗi tập thể" không ai chịu trách nhiệm. Theo tôi, phải quy rõ trách nhiệm cá nhân để xử lý cách chức hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có tình trạng bỏ túi cá nhân.
- Và khó giải quyết nhất phải chăng là ở nhóm các doanh nghiệp nhà nước?
Nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước không dễ xử lý do nhiều tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay như nguyên liệu, hàng hóa có tính thanh khoản thấp. Giải quyết nợ xấu phải có chi phí và liên quan đến rất nhiều vấn đề. Hiện nay, công bố cũng chỉ là con số tương đối, chưa minh bạch, rõ ràng.
Nhà nước giải quyết, doanh nghiệp ỉ lại
- Liệu có một "thượng phương bảo kiếm" nào có thể xóa được gánh nặng nợ xấu cho nền kinh tế thưa ông?
- Nhà nước phải có một kế hoạch tổng thể với nhiều giải pháp đồng bộ chứ không thể giao cho một vài doanh nghiệp giải quyết và càng không phải là người dân. Nếu nhà nước đứng ra giải quyết nợ xấu thì sẽ gây ra sự ỉ lại của các doanh nghiệp và các nhóm lợi ích.
- Để giải quyết nợ xấu ở Việt Nam, theo ông phải làm gì?
- Có nhiều kiểu nợ xấu khác nhau. Ví dụ như một doanh nghiệp cứ duy trì mãi một hệ thống sản xuất cũ kỹ, đưa ra thị trường những sản phẩm chất lượng kém, không cạnh tranh được, thì phải tìm cách mà đóng cửa, giải thể đi chứ cứ dây dưa nhùng nhằng mãi làm gì. Rồi những doanh nghiệp đầu cơ bất động sản thua lỗ thì phải để chính họ chịu trách nhiệm chứ. Đó là những kiểu kinh doanh "đáng chết" thì không cần phải cứu. Chứ giờ nhà nước lại mua lại khoản nợ ấy thì ngân sách nào cho lại lại được, mà như thế thì ông doanh nghiệp sẽ lại còn lũng đoạn nữa.
- Ý ông là phải làm rõ từng khoản để giải quyết lần lượt?
- Đúng, tùy từng khoản nợ khác nhau mà có cách giải quyết khác nhau. Nợ xấu từ sản xuất, nợ xấu từ đầu cơ, nợ xấu từ chính sách nhà nước... Đâu là nợ xấu của ngân hàng, đâu là nợ xấu của doanh nghiệp, của bất động sản. Xuất phát từ nguyên nhân nào thì có giải pháp đó chứ đừng kêu gọi cả xã hội bỏ tiền ra mua nợ xấu. Không thể có chuyện ù ù cạc cạc, gom hết lại thành nợ xấu rồi để Nhà nước phải giải quyết được. 
- Vậy là cũng sẽ phải quy trách nhiệm nợ xấu của từng khoản, từng người?
- Đúng thế, ai làm người ấy phải chịu trách nhiệm chứ. Khi đã từng khoản rạch ròi thì ai đáng chịu lỗi phải phạt lỗi.
- Xin cảm ơn ông!
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu, tiến độ thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước chậm so với yêu cầu, chưa có chuyển biến mang tính đột phá, nhất là phân bổ lại nguồn lực và phương thức quản trị doanh nghiệp hiện đại phù hợp với xu hướng cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường. Tiến độ thoái vốn còn chậm, tổng số tiền thu về còn thấp so với yêu cầu, phần lớn các khoản đầu tư ngoài ngành có hiệu quả thấp, một số thua lỗ nên khó thu hút được các nhà đầu tư.

Theo: Tô Hội/ kienthuc.net.vn

Copy từ: GIÁO DỤC VÀ XÃ HỘI
 

DNNN 'dính' nợ xấu thì nhà nước phải chi ngân sách 'cứu'

(Tài chính) - Doanh nghiệp nhà nước là của nhà nước mà 'dính' nợ xấu không bỏ tiền ngân sách ra xử lý thì ai làm?.

TS Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội Đồng Tư Vấn Chính sách tiền tệ Quốc Gia đã lý giải với Đất Việt về đề xuất mà nhóm tư vấn đưa ra với Chính phủ xin Quốc hội trích ngân sách để xử lý nợ xấu.
Chỉ cứu tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước
Mới đây trong báo cáo gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát tái cơ cấu nền kinh tế, Chính phủ đã thừa nhận tái cơ cấu nền kinh tế còn chưa được như mong muốn; tái cơ cấu hệ thống ngân hàng còn chậm...
Theo đó Chính phủ đã đề xuất Quốc hội “xem xét dành một phần ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu” của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
Lý giải về đề xuất này, TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng, phải có một nguồn tiền thực sự để mạnh tay tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại, cho phép họ xóa những khoản nợ biết chắc là không thể thu hồi được ví dụ như nợ của DNNN.
"Đây là xử lý nợ xấu cho DNNN. Nếu không xử lý thì tín dụng sẽ bị đóng băng và không thoát ra được. Khi đó thì cả nền kinh tế sẽ bị suy sụp chứ không không phải một mình người đi vay và người cho vay 'chết'.
Doanh nghiệp phá sản đồng nghĩa với việc người lao động không có công ăn việc làm. Chưa kể doanh nghiệp nhà nước là của nhà nước nên không bỏ tiền ngân sách ra xử lý thì làm gì có ai đứng ra?", TS Nghĩa phân tích.
Theo ông Nghĩa, trên thực tế nợ xấu khi mà vượt quá khả năng xử lý của một ngân hàng thương mại thì đây là vấn đề của nền kinh tế chứ không đơn thuần là của người đi vay và cho vay.
Theo thống kê sơ bộ, có tới 70% nợ xấu đang nằm tại các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, mà chủ nợ chủ yếu là các ngân hàng thương mại Nhà nước.
Chi ngân sách để xử lý nợ xấu đang được Chính phủ đề xuất với Quốc hội
Chi ngân sách để xử lý nợ xấu đang được Chính phủ đề xuất với Quốc hội
Nợ không xử lý được là vấn đề của quốc gia
Theo TS Nghĩa, kinh nghiệm các nước cho thấy khi nợ xấu không xử lý được thì nó trở thành vấn đề của quốc gia.
"Khi đó xử lý nợ xấu là một vấn đề cần có quyết sách lớn, lựa chọn 1 phương thức xử lý hiệu quả mà phương thức xử lý hiệu quả nhất đối với nợ xấu là xử lý bằng tiền của ngân sách và phải được xử lý trong một thời gian ngắn, nhanh, dứt điểm.
Lý do là vì càng để lâu thì DN phá sản càng nhiều hơn, khiến cho khả năng thu hồi vốn kém hơn đã đành, nhưng khả năng phục hồi của nền kinh tế cũng chậm đi", ông Nghĩa nói.
Theo đó phần lớn các nước đi theo con đường dùng một phần tiền của ngân sách, một phần tiền của NHNN, một phần tiền của ngân hàng thương mại (NHTM) để xử lý nợ xấu.
"Việt Nam cũng không có cách lựa chọn nào khác bằng cách dùng một phần tiền của các NHTM thông qua quỹ dự phòng rủi ro, một phần là tiền của NHNN thông qua trái phiếu đặc biệt và định chế tài chính-VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng)", ông Nghĩa nêu.
Thành viên hội đồng tư vấn chính sách này cũng kỳ vọng việc trích một phần ngân sách xử lý nợ xấu nếu giải quyết nhanh sẽ thúc đẩy nền kinh tế trong giai đoạn này.
"Khi cả tín dụng phục hồi và xử lý nợ xấu được giải quyết thì mới đẩy nhanh được tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế". TS Lê Xuât Nghĩa kỳ vọng.
Bích Ngọc
Đọc thêm:

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

Chuyên gia Bùi Kiến Thành: 'Nếu không có kiều hối, Việt Nam phá sản rồi'

Thứ Hai, 14/07/2014
 

Chuyên gia cũng cho rằng dự trữ ngoại hối 35 tỷ USD "chưa ăn thua gì", vẫn yếu so với nhu cầu phát triển của nền kinh tế.

Ngày 18/06 vừa qua, NHNN đã nâng tỷ giá VND/USD bình quân liên ngân hàng thêm 1%. Việc điều chỉnh tỷ giá này có thực sự hỗ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu? Cùng với việc tín dụng ngoại tệ tăng trưởng khá cao trong 6 tháng đầu năm, liệu có khiến cho tình hình ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng trở nên căng thẳng và đẩy lãi suất huy động ngoại tệ lên?
Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành về những vấn đề này.
Thưa ông, ông đánh giá thế nào về động thái điều chỉnh tỷ giá vừa rồi của NHNN?
Chuyên gia Bùi Kiến Thành: Trước hết là tỷ giá cũng không có tăng gì nhiều, chỉ 1% thôi. NHNN đã nghiên cứu về giá trị thật của đồng tiền Việt Nam. Nhiều chuyên gia đánh giá là đồng Việt Nam đang không đúng giá trị thật, giá trị thật thấp hơn nhiều.
Chính sách tỷ giá của Việt Nam hiện đang có 2 vấn đề. Một là giá trị thật của đồng VND cần được điều chỉnh. Chủ trương mỗi năm điều chỉnh khoảng 2- 3%, năm nay, sau nửa năm điều chỉnh 1% thì cũng là bình thường thôi, không có gì là ngoài dự đoán của những người theo dõi tỷ giá Việt Nam.
Vấn đề thứ hai là làm sao để các nhà xuất khẩu không thiệt hại quá nhiều khi chuyển đồng USD sang nội tệ, thêm nữa là giúp cho xuất khẩu mạnh hơn. Đối với các nhà xuất khẩu, điều chỉnh tỷ giá thì họ được lợi thêm 1% khi chuyển đổi ra nội tệ. Điều này cũng hỗ trợ doanh nghiệp phần nào, nhưng đó chỉ là một chuyện nhỏ mà nhà nước phải làm thôi.
Việt Nam có đặc thù là xuất khẩu nhưng tỷ lệ nội hóa của mình không có bao nhiêu, nguyên liệu hầu hết là nhập từ nước ngoài về. Ví dụ như năm vừa rồi, 68% kim ngạch xuất khẩu đến từ các Doanh nghiệp FDI nhưng các DN này phần lớn là nhập khẩu nguyên liệu. Trong 68% ấy có đến 40 - 50 % là hàng nhập về. Tính ra “tinh” của nó chả có bao nhiêu.
Khi hạ giá trị đồng VND xuống thì mình cũng phải trả tiền nguyên liệu cao hơn. Vì thế nó cũng không phải lợi thế cho mình xuất khẩu vì nó không làm cho hàng hóa Việt Nam rẻ hơn nhiều so với DN nước ngoài.
Theo thông tin từ NHNN, tính đến tháng 6/2014, tín dụng ngoại tệ tăng 12,03% trong khi tín dụng VND chỉ tăng 2,17%. Ông đánh giá như thế nào về mức tăng trưởng tín dụng ngoại tệ mạnh như vậy?
 
Trước đây theo nguyên tắc doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ về mới được vay ngoại tệ, tức là Doanh nghiệp xuất khẩu là chính nhưng vừa rồi Nhà nước có chính sách mới cho phép các DN thuộc 5 lĩnh vực được vay ngoại tệ. Đây có thể là một nguyên nhân khiến cho tín dụng ngoại tệ tăng mạnh.
Tuy nhiên, theo tôi, chính sách muốn tạo ưu đãi đối với các lĩnh vực đó nhưng đi ngược nguyên tắc có ngoại tệ mới được vay, và nó có thể ảnh hưởng đến cung cầu ngoại tệ và tỷ giá nếu thị trường không có đủ ngoại tệ để bán. Lãi suất cho vay VND quá cao, người ta ít vay tiền VND. Tự nhiên mình tạo ra cầu về ngoại tệ như thế, sau này không quản lý nổi. Chính sách tỷ giá như thế là mầm tạo căng thẳng sau này.
Còn về phía người đi vay, tôi muốn nói rằng lãi suất huy động ngoại tệ thấp hơn lãi suất huy động VND, huy động cao thì cho vay cao, huy động thấp thì cho vay thấp. Nhưng người đi vay cần phải cẩn thận xem xét trong mối quan hệ với chính sách tỷ giá để tính toán xem lãi suất đi vay thật của mình là bao nhiêu?
Ngoài ra, cũng có những Doanh nghiệp có quan hệ với Ngân hàng, vay USD rồi chuyển sang VND gửi vào Ngân hàng hưởng lãi suất. Việt Nam có nạn cho vay mà không kiểm soát giám định luồng tiền có đi đúng hướng hay không cho nên người ta có thể thực hiện điều này.
Theo báo cáo của UBGS Tài chính quốc gia, tỷ lệ cho vay/tiền gửi ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng đã tăng lên mức 95,5% trong tháng 5/2014. Thưa ông, việc nâng tỷ giá VND/USD để hỗ trợ DN xuất khẩu có thể làm tăng trưởng tín dụng ngoại tệ cao thêm và gây ra căng thẳng ngoại tệ cho hệ thống hay không?
Có căng thẳng ngoại tệ là vì nhà nước mở rộng đối tượng được vay ngoại tệ và Ngân hàng đã cho vay ngoại tệ đến mức gần 100% tiền gửi, không còn có đủ ngoại tệ để cho vay. Thế thì phải đi mua. Mua nhiều làm đẩy giá ngoại tệ lên. Mà mua ở đâu? Mua trên thị trường liên Ngân hàng. Không có thì mua của tư nhân, từ đó mà đẩy lãi suất huy động ngoại tệ lên. Cho nên tôi mới nói là phải thận trọng. Không phải là nhà nước quyết định một cái, mở thêm ra cho 5 lĩnh vực được vay ngoại tệ là được yên. Cho nhiều đối tượng được vay ngoại tệ thì sẽ khan hiếm thôi.
Có một vấn đề quan trọng mà ít người quan tâm. Đó là con số mỗi năm lượng kiều hối gửi về gần 11 tỷ USD. Đây là số tiền rất quan trọng. Nếu không có khoản tiền này thì dự trữ ngoại hối của mình được bao nhiêu đâu? Tính sơ sơ, 10 năm nay kiều hối gửi về là hơn 100 tỷ USD, không có khoản này thì Việt Nam đã phá sản rồi, làm gì có ngoại tệ để chi khi mà anh xài nhiều hơn làm ra. Vấn đề nhập siêu cũng là nhờ kiều hối chứ lấy đâu ra mà trả.
Nói rõ hơn, cán cân thương mại của Việt Nam luôn ở trong tình trạng nhập siêu. Nhưng cán cân thanh toán thì cân bằng được là nhờ kiều hối và đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, xét lại các khoản đầu tư nước ngoài thì thực tế họ có cho không mình đâu. “Nó” vào rồi “nó” đi ra. ODA cũng vậy, không phải là khoản cho không. Khi sử dụng các khoản vốn này, Việt Nam đều phải mua hàng hóa, nguyên liệu của các nước cho vay. Họ cho vay nhưng chính ra là tìm cách bán hàng cho mình. Họ ưu đãi lãi suất nhưng không ưu đãi giá cả bán hàng. Vào cuộc là họ lấy mất 20% lợi nhuận của mình rồi. Thế nhưng mình coi ODA là ghê gớm lắm, thậm chí coi như tiền chùa xài thoải mái. Trong khi chỉ có kiều hối là đồng bào mình cho không đất nước.
Thưa ông, trong những ngày vừa qua, đồng USD liên tục xuống giá so với VND. Có ý kiến cho rằng điều này là do cầu ngoại tệ không nhiều hay nói cách khác là doanh nghiệp nhập khẩu đang yếu nên giảm nhu cầu ngoại tệ để mua hàng hóa. Xin ông cho biết ý kiến của mình?
Người ta nói mò thế thôi. Con số mỗi ngày lên xuống là chuyện mưa nắng thất thường trên thị trường mua bán ngoại tệ. Phải nhìn xu hướng lâu dài thế nào chứ đừng nhìn 1, 2 ngày. Giờ Ngân hàng đang cho vay nhiều ngoại tệ, mà muốn tiếp tục cho vay thì phải đi mua như tôi đã nói ở trên. Nếu chính sách là mở rộng cho vay bằng ngoại tệ mà cung ngoại tệ không theo kịp thì giá ngoại tệ sẽ lên. Về dài hạn là như thế.
Theo thị trường nếu cung thiếu thì giá lên. Lãi suất huy động đồng USD sẽ cũng phải lên mà thôi.
Có thêm ý kiến cho rằng con số dự trữ ngoại hối “kỷ lục” 35 tỷ USD cũng có thể là một biểu hiện của sức cầu ngoại tệ không lớn?
Thế nào là kỷ lục? Chưa bao giờ mình đạt được mức ấy nhưng không có nghĩa nó là lớn. Lúc trước có 1000 đồng trong túi, lúc sau có 1 tỷ. 1 tỷ đồng đó là kỷ lục, nhưng nó có đủ không? Có đáp ứng được nhu cầu của mình không? Có 35 tỷ USD đấy nhưng nhu cầu của đất nước lúc này là bao nhiêu? Chúng ta vẫn phải đi vay ngân hàng thế giới, vay các tổ chức quốc tế, vay các nước phát triển… Kỷ lục nhưng vẫn yếu so với nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Vậy ông đánh giá thế nào về khoản dự trữ ngoại tệ 35 tỷ USD này? Khoản này có đảm bảo thị trường không thiếu hụt nguồn cung hay không?
35 tỷ ăn thua gì, có 12 tuần lễ nhập khẩu, sao gọi là an toàn được. Nhỡ có sự kiện gì làm người ta ùa đi mua ngoại tệ, ngân hàng nhà nước phải đứng ra bình ổn bằng cách bán USD thì không có đủ mà bán được. Nhất là khi cán cân thương mại lại bị nhập siêu. Mình chỉ dựa vào ODA được chút ít. Họ nói giải ngân 7 tỷ, 8 tỷ nhưng có giải ngân thế đâu. Vừa rồi phó thủ trướng Hoàng Trung Hải nói còn 21 tỷ USD chưa giải ngân được trong số 57 tỷ ODA cam kết tức là gần 40%. Khi chúng ta không đáp ứng yêu cầu của người cho vay vì họ bắt mình mua giá này, bắt đưa ra chương trình nọ kia để họ phê duyệt giải ngân, mình không đồng ý thì họ không giải ngân thôi. Khi đó chúng ta lại không giải quyết được nguồn vốn để đầu tư các dự án.
35 tỷ chỉ là một nguồn mà cũng không dùng được nguồn đấy, vì nó là dự trữ, chỉ đáp ứng nhu cầu mười mấy tuần nhập khẩu. Cho nên tới đây vẫn phải làm sao để tăng dự trữ ngoại hối hơn nữa. Bằng cách nào? Từ nguồn trong nước, vay nước ngoài, từ nguồn vô hạn định của Ngân hàng trung ương là tạo ra tín dụng cho Doanh nghiệp phát triển...

 
Chúng ta phải xem chính sách tiền tệ là như thế nào? Các nước như Mỹ, Nhật khởi đầu như thế nào, từ đâu mà họ lớn mạnh lên? Phải xem ngân hàng trung ương của các quốc gia khác họ làm thế nào để xây dựng một hệ thống tài chính ngân hàng hiệu quả! Có đi vay thì cũng phải biết cách sử dụng vốn vay cho hiệu quả chứ không phải là tiêu xài hoang phí, rút ruột công trình…
Xin cảm ơn ông rất nhiều!
  Mặt trái của mức tăng dự trữ ngoại hối
 
Hải Minh
Theo Trí Thức Trẻ
http://vinacorp.vn/news/chuyen-gia-bui-kien-thanh-neu-khong-co-kieu-hoi-viet-nam-pha-san-roi/ct-563666


Copy từ: Người Lót Gạch

............

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Những câu hỏi cũ chờ những câu trả lời mới


Tô Văn Trường
clip_image001
Vải thiều đang trông đợi nhiều vào người tiêu dùng trong nước. Ảnh TL
Nông dân nước ta mỗi khi thấy lãnh đạo nào đến thăm địa phương cũng ra rả “trồng cây gì, nuôi con gì” là lại nẫu cả ruột gan - vì thật lòng người dân mong chờ có câu giải đáp, chứ không muốn nghe những câu hỏi được đặt ra!
Nỗi ám ảnh của người nông dân
Đối với người lãnh đạo ngành nông nghiệp, nhiều người dân đặt ra các câu hỏi: Nông lâm, thủy sản xuất khẩu hàng chục tỉ USD/năm nhưng có mặt hàng nào có sức cạnh tranh - hội nhập, có thương hiệu hay không? Người dân ăn lương thực và thực phẩm do nông dân ta trồng có sạch không? Làm sao biết? Về chính sách đã đề xuất cho Chính phủ có lợi cho nông dân và Nhà nước được những thứ gì cụ thể?
Tâm lý và tác phong tiểu nông của người nông dân đã dẫn đến sự phát triển nông nghiệp một cách tự phát, như trường hợp trồng điều rồi lại chặt điều, trồng tiêu rồi lại chặt tiêu. Mới đây là trường hợp nông dân bị chi phối bởi thương lái Trung Quốc, thậm chí những người nông dân nhẹ dạ bị họ lừa đặt mua giá cao những loại sản phẩm “quái chiêu” như đỉa, lá điều khô, lá vải, nụ hoa thanh long, xoài non… làm cho nông nghiệp phát triển lộn xộn, kém hiệu quả.

Vai trò quản lý của Nhà nước ở đâu?
Suốt một thời gian dài, chúng ta đã không chú ý đúng mức đến nhiệm vụ công nghiệp hóa lĩnh vực nông nghiệp, hiện đại hóa cho người nông dân, một yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất nông nghiệp nên người nông dân vẫn dường như giẫm chân tại chỗ ở trình độ người tiểu nông.
Sản xuất của người nông dân bị ứ thừa chủ yếu do các nguyên nhân: Sản xuất không theo định hướng thị trường, nói cách khác là thiếu thông tin, thiếu vai trò Nhà nước một cách hữu hiệu. Vai trò Bộ Công thương và nhất là thương vụ mờ nhạt. Doanh nghiệp chưa tham gia tìm kiếm và xác lập thị trường (thậm chí với những ngành hàng Việt Nam chiếm số lượng áp đảo cần phải kiến tạo thị trường cho riêng mình).
Kiểu buôn bán của ta vẫn theo kiểu có gì bán nấy. Nông dân loay hoay theo tín hiệu thị trường ngắn hạn vì có ai lo cho thông tin đâu. Doanh nghiệp chỉ đầu tư vào công đoạn lãi nhanh, rủi ro thấp, hầu như rất ít có doanh nghiệp đầu tư khâu sản xuất.
Việt Nam sản xuất quy mô nhỏ nên mẫu mã, chất lượng không đồng đều, vệ sinh an toàn thực phẩm kém. Ví dụ như sản phẩm cá ngừ Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản (dùng làm món sashimi), do phẩm chất quá kém nên chỉ bán được với mức giá bằng 10% so với những sản phẩm cùng loại của các nguồn khác.
Công nghiệp chế biến và bảo quản của ta quá yếu. Vấn đề là tỉ lệ chế biến và chế biến sâu quá thấp. Do vậy, có lẽ cần nghiên cứu mô hình sản xuất/chế biến.
Để giúp người nông dân không phải lo “được mùa, mất giá” cần nắn lại ngay cái nếp “nông nghiệp thành tích”, “nhờ trời” để trở thành nông nghiệp thị trường và nông nghiệp hàng hóa. Hãy nhẩm kỹ lại lời của tiền nhân đã dạy “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, hãy thống kê bằng VND hoặc bằng USD, hãy đoạn tuyệt với cách tính bằng tấn (nghe số tấn dễ “phổng mũi” lắm)!
Kinh nghiệm của chuyên gia người Việt sinh sống nhờ nuôi tôm ở quần đảo Hawaii cho biết thoạt kỳ thủy ở những đảo này (1970-1980) họ nuôi và bán ra thị trường loại tôm chất lượng hàng đầu trên thế giới. Qua thập niên 1990 họ chuyển sang chuyên bán tôm giống (gọn nhẹ, lời hơn), sau đó, họ lại xoay tiếp sang chuyên sản xuất và bán ra thị trường “tôm bố mẹ” với giá mấy trăm USD/cặp. Vậy là họ đã “thiên biến vạn hóa”, liên tục “leo thang”, không chịu “giẫm chân tại chỗ”, nhất quyết làm chủ, tung hoành thị trường bằng thế mạnh riêng.

Chờ những câu trả lời mới
Ở Việt Nam, cần phải đẩy mạnh đa dạng thị trường, tăng cường đầu tư cho bảo quản và chế biến. Hình thành doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn, cho phép doanh nghiệp tích tụ ruộng đất. Tại sao ta có thể thu hồi đất cho công nghiệp mà không thể thể làm cho nông nghiệp, đó là chưa kể tích tụ đất đai không làm thay đổi mục đích sử dụng như chuyển sang công nghiệp. Nhà nước cần hỗ trợ cho cơ sở hạ tầng, chính sách tích tụ đất đai, vốn vay.
Nông dân khi đó là cổ đông của doanh nghiệp, họ góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Kêu gọi FDI trong bảo quản, chế biến, công nghệ cao, thay đổi tư duy về nông nghiệp: là ngành mang tính kinh tế - xã hội và thậm chí chính trị rất cao, như vậy mới có đầu tư xứng đáng với đóng góp của nông nghiệp. Cần chuyển chức năng quản lý xuất nhập khẩu nông sản từ Bộ Công thương về Bộ NN&PTNT.
Cách đây nửa thế kỷ ở nước ta rầm rộ vận động “phong trào hiến kế”, còn bây giờ cái gì cũng phải XIN! Bỏ ngay thói quen “gà què ăn quẩn cối xay” và cung cách “buôn thúng bán bưng” chỉ quen bán ở những chợ “thượng vàng, hạ cám”, “có sao bán vậy” ở những “chợ tả-pí-lù”, để đĩnh đạc bước vào những siêu thị. Trong khi nơi này, nơi kia phô trương những “lò ươm tạo các doanh nghiệp” mà quên rằng nông dân chính là doanh nghiệp lớn nhất!
Để đáp ứng được các điểm kể trên, phải đi vào phẩm chất hàng hóa: PHẨM và CHẤT.  Mới đây, trên kênh truyền hình VTV1 Bộ trưởng KHCN Nguyễn Quân có trả lời những câu hỏi của bà con về những sản phẩm nông nghiệp, trong đó có mục cá ngừ Việt Nam và cả về cách bảo quản trái cây để xuất khẩu (cụ thể là vải thiều). Khoa học sẽ nghiên cứu theo 2 hướng: Chuẩn bị các sản phẩm chiến lược lâu dài đồng thời đáp ứng đặt hàng của doanh nghiệp.
Thời gian qua chúng ta đổ lỗi nhiều cho khoa học kỹ thuật, nhưng lỗi lớn hơn phải là của khoa học quản lý. Do vậy, có lẽ điều trước tiên cần nghiên cứu và xác định cho ra Mô hình tổ chức sản xuất trong bối cảnh AFTA và TPP với kinh tế họ quy mô nhỏ là chủ lực.
Nhà bác học A. Einstein có nhận xét rất chí lý: “Những câu hỏi cũ luôn cần có những câu trả lời mới”! Hy vọng, trước hết ở các nhà quản lý có tư duy mới và thực tế để giúp người nông dân thoát khỏi cảnh thu nhập quá thấp lại luôn bị ám ảnh phải “nuôi con gì, trồng cây gì”? 

T. V. T.


Copy từ:  Một Thế Giới




........

Kiện Trung Quốc và các ảnh hưởng kinh tế

LTS. Bốn mươi năm qua, không chỉ chiếm đóng các đảo của Việt Nam, Trung Quốc còn áp đặt quyền chủ quyền lên các vùng biển quanh Hoàng Sa. Những năm gần đây, các cơ quan chấp pháp trên biển của Trung Quốc liên tục bắt giữ, xua đuổi ngư dân Việt Nam hoạt động trong ngư trường truyền thống hàng trăm năm nay ở quần đảo Hoàng Sa. Mới nhất là việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Hoàng Sa và vịnh Bắc bộ. Trước tình trạng gia tăng các vi phạm nghiêm trọng của Trung Quốc trên biển Đông, thông tin gần nhất cho thấy lãnh đạo Việt Nam đang tính đến biện pháp pháp lý, hay nói cách khác là kiện Trung Quốc ra toà. Trong trường hợp Việt Nam kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế, ngoài những vấn đề pháp lý, chúng ta cần dự đoán các hành động “trả đũa” có thể của Trung Quốc về kinh tế để chuẩn bị đối phó.  

Kiện Trung Quốc và các ảnh hưởng kinh tế
Xe chở trái cây xuất khẩu ứ đọng ở biên giới Việt - Trung. Ảnh: thoibaokinhdoanh.vn
Đối với Trung Quốc, từ năm 2001, Việt Nam liên tục nhập siêu và cán cân thương mại ngày càng thâm hụt lớn. Trong khi Hoa Kỳ và EU (liên minh châu Âu) là các đối tác mà Việt Nam liên tục xuất siêu, đối với Trung Quốc, Việt Nam liên tục nhập siêu.

Cái bình, con chuột và “Tái ông thất mã”

Theo số liệu thống kê, năm 2013, trao đổi thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc đạt 50,2 tỉ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 13,26 tỉ USD (chiếm khoảng 10% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam), nhập khẩu đạt 36,94 tỉ USD (khoảng 28% tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam).
Để dự đoán đồng thời tìm giải pháp đối phó với những trả đũa về kinh tế mà Trung Quốc có thể sẽ áp dụng với Việt Nam, một trong những điều cần làm là hiểu rõ hơn những mạnh yếu của chúng ta trong quan hệ thương mại Việt - Trung
Gần đây, chính phủ hai nước đã thống nhất tăng kim ngạch thương mại hai chiều lên 60 tỉ USD vào năm 2015. Nếu cán cân thương mại không được cải thiện, vấn đề nhập siêu trong thương mại với Trung Quốc sẽ trở nên trầm trọng hơn, do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. Đến nay, giá trị nhập khẩu gấp khoảng hai - ba lần giá trị xuất khẩu và không có dấu hiệu thu hẹp.
Khi nhìn vào các con số trên, có thể nhận thấy hai điều:
Đối với Việt Nam, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn và quan trọng. Nếu Việt Nam thách Trung Quốc ra toà, một kịch bản tưởng tượng và cực đoan là Trung Quốc sẽ giơ “đũa thần” làm ngưng trệ giao thương giữa hai nước. Tuy nhiên, không phải là Trung Quốc không bị “đụng chạm” gì trong trường hợp đó, vì chính Trung Quốc, và người lao động của họ, hiện cũng đang xuất khẩu đến 36,94 tỉ USD sang Việt Nam (gấp gần ba lần Việt Nam xuất sang Trung Quốc). Dĩ nhiên ảnh hưởng của 36,94 tỉ USD đối với thương mại Trung Quốc sẽ ít hơn của 13,26 tỉ USD đối với thương mại Việt Nam, nhưng không thể nói nền kinh tế Trung Quốc hoàn toàn không bị ảnh hưởng. Ném được chuột thì bình cũng không chắc còn nguyên!

Một trong số các dự án Trung Quốc trúng thầu tại Việt Nam: nhà máy khí điện đạm Cà Mau. Ảnh: TL
Sự mất cân bằng trong thương mại Việt - Trung, với phần thiệt thòi cho Việt Nam, là rõ ràng và ngày càng trở nên tồi tệ hơn nếu tiếp tục như hiện nay. Các trả đũa về thương mại dưới bất cứ hình thức nào của Trung Quốc, nếu có, cũng chỉ có thể làm Việt Nam nhập khẩu ít đi từ Trung Quốc. Điều đó, nếu xảy ra, có thể gây khó khăn cho sản xuất Việt Nam trong ngắn hạn, tuy nhiên về trung hạn và dài hạn sẽ hướng Việt Nam đến những bạn hàng bình đẳng hơn, với cán cân thương mại thăng bằng hơn cho Việt Nam, ví dụ như Hoa Kỳ và EU, và giảm sự phụ thuộc về kinh tế của Việt Nam vào Trung Quốc nhiều hơn. Với nền kinh tế của Việt Nam, đó có khi lại là sự may mắn kiểu “Tái ông thất mã”.

Dĩ độc trị độc

Khi đi sâu phân tích các mặt hàng Việt Nam nhập từ Trung Quốc, chúng ta nhận thấy nhiều hàng nông sản, 40% là các hàng hoá cơ bản, thâm dụng tài nguyên và công nghệ thấp. Hàng nông nghiệp và các sản phẩm hàng hoá cơ bản và công nghệ thấp là những sản phẩm mà Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động sản xuất được. Nếu Trung Quốc dựng hàng rào thuế quan để chặn các hàng nhập khẩu từ Việt Nam thì không lý do gì Việt Nam không thể làm tương tự đối với các mặt hàng nông sản, cơ bản và công nghệ thấp của Trung Quốc. Sự khan hiếm các mặt hàng xuất xứ Trung Quốc loại này chỉ có thể là điều tốt cho nền sản xuất Việt Nam trong trung và dài hạn.
Nếu Trung Quốc dựng hàng rào thuế quan để chặn các hàng nhập khẩu từ Việt Nam thì không lý do gì Việt Nam không thể làm tương tự đối với các mặt hàng nông sản, cơ bản và công nghệ thấp của Trung Quốc. Sự khan hiếm các mặt hàng xuất xứ Trung Quốc loại này chỉ có thể là điều tốt cho nền sản xuất Việt Nam trong trung và dài hạn
Ngoài ra, Việt Nam có xu hướng nhập khẩu từ Trung Quốc các sản phẩm phục vụ sản xuất và xây dựng như hoá chất, điện tử, máy móc thiết bị, sợi dệt. Đây là yếu điểm Trung Quốc có thể trả đũa để gây khó dễ cho nền sản xuất Việt Nam. Để đối phó với khả năng này và giảm thiểu ảnh hưởng từ sự trả đũa của Trung Quốc, Việt Nam phải đa dạng hoá nguồn nhập khẩu các sản phẩm loại trên. Ngoài ra, việc Việt Nam phải nhập các sản phẩm như sắt thép, máy móc thiết bị một phần lớn là do các nhà thầu EPC (Engnieering, Procurement, Construction) Trung Quốc hay các dự án FDI (Foreign Direct Investment) từ Trung Quốc không tuân thủ các chỉ tiêu sử dụng sản phẩm và nhà thầu Việt Nam. Do đó, Việt Nam hoàn toàn có thể cải thiện và giảm thiểu nhập khẩu từ Trung Quốc các dạng sản phẩm này nếu quản lý nghiêm chỉnh các dự án FDI, các việc chấm thầu EPC.

Cắt giảm đầu tư: không đáng ngại

FDI Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam không nhiều như các nước khác. Ví dụ như trong năm 2013, năm FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam tăng đột biến với gần 2 tỉ USD đầu tư mới để thành 2,3 tỉ USD, con số này mặc dầu tăng bất ngờ vẫn xếp xa sau các nước Nhật, Singapore, Hàn Quốc với FDI cấp mới cho năm 2013 lần lượt là 5,875 tỉ USD, 4,76 tỉ USD, và 4,46 tỉ USD.

Khủng hoảng nhiên liệu là một trong những nguyên nhân xấm lấn của Trung Quốc.
Ảnh: vovworld.vn
Tuy đầu tư vào Việt Nam không nhiều, hay nói cách khác đem đến Việt Nam không nhiều ngoại tệ, Trung Quốc lại có mức độ hưởng lợi cao hơn rất đáng kể so với các quốc gia khác. Các dự án FDI từ Trung Quốc thường đưa nhân công Trung Quốc tràn lan thành cả làng, cả phố Trung Quốc ngay trên lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra các công ty Trung Quốc lại kéo theo những máy móc thiết bị công nghệ cũ, lạc hậu sang làm việc.
Đơn cử trong lĩnh vực xây dựng, do quản lý yếu kém và tham nhũng, các gói thầu EPC thường rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc. Khi đó các nhà chế tạo Việt Nam hầu như không có cơ hội tham gia như nhà thầu phụ, tỷ lệ nội địa hoá = 0%.
Điều này kéo theo việc nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị từ Trung Quốc vào Việt Nam, thay vì sử dụng nguồn nguyên vật liệu và nhân công tại chỗ, góp phần làm cho nhập siêu của Việt Nam tăng nhanh. Có thể điểm qua một số các dự án mà Trung Quốc đã trúng thầu tại Việt Nam theo hình thức EPC, như: tổ hợp bôxít - nhôm Lâm Đồng, alumin Nhân Cơ - Đắk Nông, phân đạm Cà Mau…
Do đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam không nhiều, chiếm tỷ trọng nhỏ, trong trường hợp Việt Nam kiện Trung Quốc ra toà, thì việc Trung Quốc (nếu có) cắt giảm các nguồn đầu tư cũng không thể tạo thành một sức ép đối với kinh tế Việt Nam. Thậm chí như đã phân tích, rõ ràng có nhiều vấn đề cần giải quyết đối với các dự án có yếu tố Trung Quốc. Và như bà Phạm Chi Lan đã nói trên báo Đầu tư: “Riêng với lao động Trung Quốc, chúng ta còn quá nương nhẹ, do e ngại, cả nể một cách quá đáng. Không nên nhầm lẫn giữa quan hệ chính trị với quan hệ hợp tác kinh tế”. Vì sự thật này mà sự trả đũa kinh tế của Trung Quốc càng cho thấy Trung Quốc đang nhập nhằng quan hệ kinh tế và chính trị.
Và đó sẽ là bài học quý giá, là cơ hội để Việt Nam có thêm động lực và ý chí để giải quyết hàng loạt vấn đề như: xử lý nghiêm minh các vụ việc người Trung Quốc tràn lan ở Việt Nam, tuân thủ cơ chế đấu thầu minh bạch, loại bỏ các nhà thầu Trung Quốc và các dự án FDI hạ giá bất kể chất lượng và không tôn trọng các chỉ tiêu nội địa hoá của Việt Nam. Nói cách khác, tình hình cho thấy Trung Quốc đã và đang “trả đũa” Việt Nam ngay hiện tại chứ không phải đợi lúc Việt Nam đưa tranh chấp Hoàng Sa ra trọng tài quốc tế.

Biện pháp đối phó

Mở rộng quan hệ thương mại để tránh phụ thuộc: Nếu như năm 1986 Việt Nam mới chỉ có quan hệ trao đổi hàng hoá với 43 quốc gia, năm 1995 là 100, năm 2000 là 192 thì đến hết năm 2013, con số này lên tới gần 240 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam là bạn hàng và đối tác của nhiều nước, tham gia nhiều tổ chức kinh tế như WTO, và sắp tới là TPP, cộng đồng kinh tế ASEAN.
Chúng ta phải chuyển dịch theo dòng chảy chung của thời đại, của thế giới. Để làm điều đó, Trung Quốc không thể là đối tác, là người đồng hành chiến lược, và có vị trí quá quan trọng như hiện nay
Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, nhưng không phải là đối tác thương mại duy nhất, và khó có thể là một đối tác tốt, ổn định, bình đẳng và tuân thủ các giá trị công bằng, bảo vệ môi trường, ít nhất nếu tình hình tiếp tục diễn tiến như hiện nay.Trong khi đó, tư duy phát triển của cả thế giới đã thay đổi, với những quan điểm tăng trưởng mới như xanh, bền vững, sáng tạo, Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt với những cải cách lớn, như môi trường, biến đổi khí hậu, hay an sinh xã hội. Việc này bắt buộc chúng ta phải chuyển dịch theo dòng chảy chung của thời đại, của thế giới. Để làm điều đó, Trung Quốc không thể là đối tác, là người đồng hành chiến lược, và có vị trí quá quan trọng như hiện nay.
Là láng giềng của Việt Nam, là nhà xuất khẩu số một thế giới, việc Trung Quốc có ảnh hưởng tương hỗ đối với kinh tế Việt Nam là điều dễ hiểu. Tuy nhiên Trung Quốc không thể (hay chưa thể) dùng ảnh hưởng đó để chi phối hoàn toàn đời sống kinh tế Việt Nam và từ đó lung lạc các quyết sách chính trị. Ít nhất Việt Nam may mắn không lệ thuộc năng lượng vào Trung Quốc, như Ukraina đối với Nga.

Nhà máy bôxit Tân Rai: góp phần làm nhập siêu từ Trung Quốc tăng nhanh. Ảnh: nangluongvietnam.vn

Hành động vì lợi ích dân tộc và chủ quyền đất nước: kiện Trung Quốc ra toà theo cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) và đồng thời yêu cầu chính thức Trung Quốc đưa tranh chấp Hoàng Sa ra phân xử tại toà án Công lý Quốc tế, là một hành động văn minh, thể hiện tinh thần thượng tôn công pháp quốc tế và hoà bình. Đó là một điều bình thường, một cách cư xử đúng đắn giữa các nước láng giềng với sự tôn trọng tối thiểu dành cho nhau.
Khi thực hiện công việc lành mạnh đó, Việt Nam có thể gặp phải các trả đũa về kinh tế của Trung Quốc. Các trả đũa này có thể gây các khó khăn cho người dân, cho sản xuất của Việt Nam, tuy nhiên về trung hạn và dài hạn, các trả đũa này nếu kéo dài sẽ là liều thuốc quý để Việt Nam giải quyết dứt điểm các vấn đề, các điểm yếu trong mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Các khó khăn sẽ là động lực, cơ hội để Việt Nam cải tổ cơ cấu, sản xuất, và tiêu dùng, và hướng đến các đối tác thương mại bền vững hơn, thậm chí đạt được một mối quan hệ kinh tế thương mại bình đẳng hơn với Trung Quốc. Chúng ta có thể làm điều này hiện giờ, khi các dự án FDI của Trung Quốc vào Việt Nam còn hạn chế, và mặc dầu con số thâm hụt mậu dịch khủng lồ đối với Trung Quốc, Việt Nam vẫn duy trì vị thế tương đối độc lập về kinh tế và năng lượng.
Dĩ nhiên, thời gian sẽ không đứng về phía người không hành động.


Lê Trung Tĩnh - Trần Bằng, chuyên viên nghiên cứu thuộc nhóm Biển Đông tại Pháp.



_________
Bài viết này có tham khảo các ý kiến trong và ngoài nước về việc kiện Trung Quốc ra một cơ quan trọng tài quốc tế; tài liệu của ban Quan hệ quốc tế VCCI; tài liệu của nhóm nghiên cứu Depocent và các báo trong nước.

Copy từ: Người Đô Thị 

...............

Thứ Hai, 24 tháng 3, 2014

Điểm mặt “siêu” dự án bất động sản đang “bất động”

Hàng loạt “siêu” dự án bất động sản được đầu tư hàng trăm triệu USD đang trở thành những dự án "bất động", khối tài sản khổng lồ đang bị lãng phí từng ngày.

1. Tòa cao ốc Saigon One Tower (tên cũ là Saigon M&C Tower) có tổng vốn đầu tư ban đầu lên tới 256 triệu USD.
Đây là tòa văn phòng và căn hộ hạng A tọa lạc tại trục đường Hàm Nghi - Tôn Đức Thắng – Võ Văn Kiệt (quận 1). Dự kiến sau khi hoàn thành sẽ là tòa nhà cao thứ hai tại TP.HCM (42 tầng, cao trên 195 m).
Saigon One Tower được xây dựng trên diện tích đất 6.672 m2. Theo thiết kế, cao ốc Saigon One Tower là trung tâm thương mại, dịch vụ, văn phòng và căn hộ cao cấp đạt chuẩn quốc tế.
Dự án bao gồm một khối bệ làm trung tâm thương mại dịch vụ cao 6 tầng (diện tích 23.000 m2), một khối văn phòng cao 34 tầng (diện tích 49.000 m2) và khối căn hộ gồm 133 căn hộ cao cấp, cùng các dịch vụ tiện nghi khác.
Tòa nhà do Công ty cổ phần Địa ốc Sài Gòn M&C làm chủ đầu tư là liên doanh giữa Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist), Công ty cổ phần M&C, Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á và Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Đông Á.
Tòa cao ốc đồ sộ này được khởi công xây dựng từ năm 2009 và dự kiến hoàn thành vào năm 2011. Tuy nhiên, đến thời điểm này, sau 5 năm, tòa nhà hiện đang “bất động”.
Điểm mặt “siêu” dự án bất động sản đang “bất động”
Saigon One Tower (ảnh: Ngôn Dân)
2. Richland Emerald Tower được kỳ vọng sẽ là “kỳ quan” khu Sài Gòn – Chợ Lớn
Tòa nhà tọa lạc tại số 116-117-118 Bãi Sậy, phường 1, quận 6 với mặt tiền tiếp giáp hai con đường lớn của khu vực Chợ Lớn là Bãi Sậy và Phạm Đình Hổ. Richland Emerald Tower chỉ cách chợ Bình Tây vài trăm mét nên rất thuận tiện cho việc kinh doanh.
Dự án có diện tích đất là 3.813 m2 với tổng diện tích sàn xây dựng hơn 38.000 m2. Dự án là một tòa nhà cao 28 tầng với 2 tầng hầm và 1 tầng kỹ thuật.
Tòa nhà được thiết kế vuông vức, vững chãi và cân bằng, về mặt phong thủy thể hiện đời sống trường tồn ở trung tâm khu vực phồn thịnh nhất của Chợ Lớn.
Richland Emerald Tower trước đây do Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng Nhật Quang (phường 6, quận 3) làm chủ đầu tư, sau đó chuyển nhượng cho Công ty cổ phần Vốn Thái Thịnh.
Richland Emerald Tower đã được khởi công từ tháng 3/2008, dự kiến công trình sẽ hoàn thành vào cuối năm 2010. Tuy nhiên, đến thời điểm này, dự án chỉ hoàn thiện phần thô đến tầng 28.
Richland Emerald Tower là một trong số các dự án bất động sản tại TP.HCM chậm tiến độ bị kê biên, đấu giá lấy tiền trả lại cho khách hàng góp vốn vào dự án.
Cuối năm 2013, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản TP.HCM (thuộc Sở Tư pháp) đã tổ chức bán đấu giá toàn bộ tòa nhà này.
Điểm mặt “siêu” dự án bất động sản đang “bất động”
Phối cảnh dự án Richland Emerald Tower
3. Dự án khu phức hợp căn hộ - thương mại cao cấp Kenton Residences từng được mệnh danh là “Thiên đường nhiệt đới” do Công ty TNHH Tài Nguyên làm chủ đầu tư.
Dự án có vị trí đắc địa nằm trên trục đường Nguyễn Hữu Thọ, huyện Nhà Bè (liền kề Khu đô thị Phú Mỹ Hưng).
Đây là dự án có quy mô rất lớn với tổng diện tích đất lên tới 90.500 m2 được phân thành 3 khu với 9 tòa nhà cao từ 15 – 35 tầng với tổng số 1.640 căn hộ và trung tâm mua sắm, giải trí. Vào thời điểm năm 2009 - 2010, giá chào bán của dự án này dao động từ 1.566 – 2.250 USD/m2.
Mặc dù được khởi công từ tháng 6/2009, nhưng từ năm 2011 đến nay dự án hầu như ngừng thi công hoàn toàn. Ngay thời điểm này, các hạng mục đang thi công dang dở sắt thép đã hoen gỉ, xung quanh cỏ mọc um tùm.
Được biết, chủ đầu tư Kenton Residences đã từng đưa ra giải pháp chuyển đổi toàn bộ dự án thành khách sạn 5 sao cho một đối tác nước ngoài vì không thể cầm cự được nữa.
Tuy nhiên, thỏa thuận giữa chủ đầu tư và đối tác này không đi đến đâu do đối tác muốn khai thác thêm casino trong khách sạn nhưng không được phép.
Khó có thể hình dung được một khối lượng tài sản lớn đến mức nào khi hàng loạt “siêu” dự án bị chôn vốn từng ngày. Nguồn lực đầu tư của xã hội đang bị lãng phí một cách đau xót.
Điểm mặt “siêu” dự án bất động sản đang “bất động”
Kenton Residences (ảnh: Ngôn Dân)


Copy từ: Soha

.........

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Chiến dịch “đánh lên” bất động sản: Thây ma biết đi và tầng cuối địa ngục



Phạm Chí Dũng

Hồi sinh xác chết
Từ tháng Giêng năm 2014, một chiến dịch “đánh lên” bất động sản lại được khởi động đồng loạt ở ba thủ phủ lớn trên phạm vi quốc gia là Hà Nội, Đà Nẵng và Sài Gòn, sau vài lần phải nhận lấy thất bại chua chát trong hai năm 2012 và 2013.
Một trong những phương cách hết sức cổ điển mà các nhóm đầu cơ bất động sản và ngân hàng sử dụng lần này vẫn là truyền thông. Không quá khó khăn để công luận nhận ra số lượng bài viết theo cách “thị trường bất động sản có nhiều dấu hiệu phục hồi”, “giá nhà đất bắt đầu tăng”… xuất hiện tràn lan và không cần giấu vẻ trơ trẽn trên nhiều tờ báo in và trang mạng.
Hà Nội – một trung tâm không chỉ về kinh tế mà ngày càng dồn dập biến động về xã hội và chính trị – trở nên sôi động và trơ trẽn hơn cả. Chiếm gần phân nửa số hàng tồn kho của cả nước về căn hộ cao cấp và trung cấp, thủ đô này có thể cảm nhận tâm trạng của các đại gia nơi đây đang bén ngọt đến thế nào nếu năm con Ngựa không thể phi mã tống táng hàng tồn và do vậy không thể thanh lý nợ xấu cho giới chủ ngân hàng luôn cầm dao đằng chuôi.
Như một đặc trưng thời thượng của làng báo chí Việt Nam, một đội ngũ viết thuê đã hình thành từ Bắc vào Nam. Nếu trước đây giới PR bất động sản này sinh sống chủ yếu trên các tờ báo thương mại, kinh tế, thì nay đã chen chân vào cả những tờ báo đảng loại 1 nhưng rất khó bán như Nhân Dân, Hà Nội Mới, Đại Đoàn Kết…
Thây ma biết đi
Tình thế nền tài chính và tín dụng quốc gia đang trở nên xấu chưa từng thấy vào đầu năm 2014, đặc biệt khi Moody’s – một hãng xếp hạng tín nhiệm có uy tín trên thế giới – lần đầu tiên tung ra số liệu đến 15% nợ xấu trên tổng tài sản của nền kinh tế Việt Nam. Bất chấp hành động của Ngân hàng nhà nước cải chính “báo cáo của Moody’s chỉ có ý nghĩa tham khảo”, một tỷ lệ mới vể nợ xấu cũng lần đầu tiên phải được thừa nhận bởi cơ quan Việt Nam quá nhiều tai tiếng này: 9%.
Quy luật biện chứng lịch sử cực kỳ thời thượng là không thể giải quyết được nợ và nợ xấu nếu không xử lý được núi tồn kho khổng lồ bất động sản, và ngược lại như một định lý đảo. Cặp bài trùng này đã hiện hình từ giữa năm 2011, khi một hãng xếp hạng tín nhiệm lớn trên thế giới là Fitch Ratings tuyên bố tỷ lệ nợ xấu trong các ngân hàng thương mại Việt Nam là 13%, tức gấp đến 4 lần con số chỉ hơn 3% do Ngân hàng nhà nước công bố vào cùng thời điểm.
Đến kỳ họp quốc hội gần giữa năm 2012, Ngân hàng nhà nước bất ngờ thừa nhận tỷ lệ nợ xấu lên đến 10%, tức chỉ số này đã tăng đến 3 lần chỉ trong vòng chưa đầy một năm. Ngay vào lúc đó, thị trường bất động sản đã trở nên nguy ngập với độ trơ lì đầy kiên định của nó là vô phương cứu chữa.
Không ai có thể hiểu được cơ quan điều hành tài chính - tín dụng và tiền tệ cao nhất quốc gia, nếu bản thân họ cũng không ý thức được những gì đã và đang làm. Trong tâm thế luẩn quẩn đối phó với sức ép của công luận, chỉ một thời gian ngắn sau tỷ lệ nợ xấu lại được Ngân hàng nhà nước kéo xuống 8%, rồi còn 6%. Nhưng với tất cả các đại biểu Quốc hội nặng thói quen đọc báo cáo do người khác cung cấp, vẫn không có gì đáng ngạc nhiên khi toàn bộ số liệu của Ngân hàng nhà nước đã không cần kèm thuyết minh hoặc một cơ sở tối thiểu nào cho hai chiều lên - xuống về tỷ lệ nợ xấu. Hiểu ẩn ý hơn, có lẽ đây là một trong những cơ quan có biệt tài giấu diếm đến tận cùng hoạt động số liệu, cùng lúc đẩy Việt Nam vào một trong những vị trí tồi tệ nhất trong bảng xếp hạng của Tổ chức Minh bạch quốc tế.
Ngay cả con số đầy bất ngờ về tỷ lệ nợ xấu lên đến 35-37% do Ủy ban giám sát tài chính quốc gia – một trong những cơ quan tư vấn của Chính phủ – đột ngột công bố vào giữa năm 2013, cũng không thể làm tình trạng minh bạch sáng sủa hơn. Nhưng đến lúc này, hiện thực nguy hiểm đã tỏ rõ thế nan nguy cận kề của nó: với độ chênh đến 6 lần giữa báo cáo của hai cơ quan cùng hệ thống nhà nước, người ta có thể mường tượng một cuộc khủng hoảng tài chính - tín dụng và cả mối xung đột phe nhóm có thể nổ ra ở Việt Nam trong những ngày tháng không quá xa xôi, tái hiện hình ảnh cuộc khủng hoảng tương tự ở Thái Lan vào năm 1997.
Cần nhắc lại, nếu trước cuộc khủng hoảng tài chính 1997, tỷ lệ nợ xấu chỉ được người Thái báo cáo có 5%, thì sau khi khủng hoảng bùng phát, giới quan sát đã kinh ngạc trước tỷ lệ nợ xấu thực ở quốc gia này lên đến 50%, tức gấp chẵn 10 lần!
Với trường hợp Việt Nam, mặc dù vẫn còn trong giai đoạn cố gắng che giấu sự thật, nhưng một sự thật khác không thể phủ nhận là trong suốt ba năm qua đã không thể giải quyết khúc xương lớn nhất thuộc về thị trường nhà đất. Gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng là một ví dụ rất tiêu biểu, khi qua 9 tháng khuyến dụ mới giải ngân được vỏn vẹn 3%.
Trong khi đó, dấu hiệu sức mua cạn kiệt vào tết nguyên đán 2014 lại như một điềm báo rất xấu đối với sức tiêu thụ nhà đất. Giảm đến 40-50% so với tết năm ngoái, lực cầu thị trường tiêu dùng đang làm nên một cơn chấn động về thiểu phát và có thể cả giảm phát. Tình hình đó chắc chắn đang phản ánh trạng thái “trơ” của không chỉ thị trường hàng hóa nói chung mà còn với cả thị trường bất động sản đang quá thiểu năng trí tuệ này.
Làm thế nào có thể tiêu thụ ít nhất 100.000 căn hộ trung cấp và cao cấp đang oằn mình trong nắng gió ở Hà Nội và Sài Gòn? Làm thế nào để vào giữa năm 2014 hoặc cùng lắm đến đầu năm 2015, các con nợ đại gia bất động sản có thể đẩy được hàng, dù chỉ một phần, để trả nợ cho các ngân hàng chủ nợ, để các ngân hàng mới có thể “phân loại nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro” như một đòi hỏi theo tinh thần “sống chết mặc bay” của Ngân hàng nhà nước?
Tầng cuối địa ngục
Trong thế tuyệt vọng, nhóm lợi ích ngân hàng ôm tài sản thế chấp bất động sản đang cố tung ra con bài cuối cùng vào năm nay. Chiến dịch “đánh lên” bất động sản thậm chí còn được khoa trương bởi một thông tin sốt dẻo úp mở mới được tung ra vào những ngày gần đây: sẽ có gói kích cầu lên đến 100.000 tỷ đồng dành cho thị trường này!
100.000 tỷ nào? Và tiền ở đâu ra? Hẳn giới đầu tư luôn bị thất vọng ở Việt Nam vẫn không quên sự kiện là vào cuối năm 2012 và sang nửa đầu năm 2013, những quan chức có tầm cỡ của Bộ Xây dựng như Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam, cùng một dàn “chuyên gia lợi ích” đã liên tục “tiết lộ” về gói kích cầu lên đến 180.000 - 200.000 tỷ đồng cho bất động sản. Tuy thế cuối cùng thị trường khốn quẫn này vẫn không nhận ra bóng dáng của bất kỳ gói kích thích nào. Thậm chí, ngay cả vốn lưu động mà Ngân hàng nhà nước thường rót cho các ngân hàng thương mại vào dịp tết cũng gần như biến mất vào tết nguyên đán năm 2014.
Cô kiệt về nguồn vốn mới đang là tình thế thảm thương mà nhóm lợi ích ngân hàng không làm cách nào lay động được độ trơ của thị trường bất động sản. Núi tiền mặt vẫn dày ngộn trong két sắt Ngân hàng nhà nước và một số ngân hàng thương mại cổ phần, nhưng dấu chấm bi đát cùng tắc biến là nó lại không thể biến hóa vào thị trường lưu thông theo bất kỳ ý nghĩa sinh lợi nào. Tình hình đó càng lộ rõ triển vọng tắc nghẹn khi một chuyên gia PR tiết lộ một cách trần trụi: toàn bộ con số 100.000 tỷ đồng của “gói kích cầu” bất động sản không hề là “tiền tươi thóc thật” như giới đầu tư và tiêu dùng mong ngóng, mà chỉ là tiền được tạo ra bởi trái phiếu đặc biệt của Chính phủ.
Sẽ không có gì để bàn cãi về tính tác dụng của trào lưu phát hành trái phiếu, nếu tự thân nó không hàm chứa những thất bại hiển nhiên đã được thực chứng. Vào giữa năm 2013, kế hoạch phát hành 600 triệu USD trái phiếu chính phủ để cứu tập đoàn Vinashin đã không thể chứng nhận được bất cứ một nguồn tiêu thụ nào. Vậy với một thị trường bất động sản và cả hệ thống ngân hàng đã quá suy mòn niềm tin chính sách và cả niềm tin chính thể, làm sao có thể tống táng trái phiếu để lấy tiền cứu giới tồn kho?
2014. Kịch bản “phục hồi kinh tế” đang cố gắng được lặp lại những gì của năm 2009, tức cho thị trường chứng khoán sôi trào và kích thích tâm lý phục hồi giả dối đối với người dân và các nhà đầu tư. Tuy nhiên, khác hẳn với năm 2009 là lúc mà ngân sách nhà nước còn đủ 8,5 tỷ USD đổ ra cho một gói kích thích, trong hai năm 2012 và 2013 đã hoàn toàn chẳng có một định dạng nào cho gói kích cầu. Cũng bởi thế và cùng với độ trơ hiện hữu của thị trường bất động sản, cho dù chỉ số chứng khoán Việt Nam đang cố tình được đẩy lên gấp đôi độ tăng của thị trường chứng khoán Mỹ, vẫn quá khó có hy vọng là thị trường này sẽ tạo ra được hiệu ứng “bình thông nhau” với lực cầu trên thị trường bất động sản.
Thậm chí với thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc tính vô cùng không minh bạch của nó cộng với thói quen “cờ bạc quen tay” của không ít kẻ chỉ muốn móc tiền từ túi người khác càng biến thị trường này thành một cơn chao đảo nóng lạnh cực kỳ bất thường. Không còn là tâm điểm để giải quyết hàng tồn kho, chứng khoán và cổ phiếu chỉ là liệu pháp cuối cùng để các nhóm lợi ích ngân hàng và bất động sản dùng để kích động tâm lý và sức mua đối với thị trường nhà đất. Bởi vậy nhiều khả năng là nếu độ trơ của thị trường bất động sản vẫn hoàn toàn lì lợm trong nửa đầu năm 2014, người ta sẽ chứng kiến một cú bổ nhào cay đắng của các chỉ số chứng khoán.
Dùng thị trường đầu cơ để tạo ra những ảo ảnh về phục hồi nền kinh tế – đó là cơn bĩ cực khôn nguôi của một nền kinh tế bị nạn cờ bạc và tham nhũng ăn vào tận xương tủy trong suốt hơn hai chục năm qua.
Toàn thể cơn bĩ cực như thế thuộc về “thành tích điều hành” của Chính phủ. Nhưng đáng phẫn nộ hơn, nó đổ lên đầu người dân toàn bộ đống rác thải của một thứ chủ nghĩa tư bản dã man trong nền kinh tế thị trường độc quyền “định hướng xã hội chủ nghĩa” theo ngôn ngữ và sở thích độc trị của Đảng.
P. C. D.
Tác giả gửi trực tiếp cho: Bauxite Việt Nam

..................

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Thực hư thị trường bất động sản Việt Nam


Nguyễn Ngọc Già, gửi RFA từ VN 2013-11-26
Nha-cao-tang_7-305.jpg
Một công trình xây dựng nhà cao tầng ở Hà Nội ngày 22/12/2012.
RFA
“Hãy mua bất động sản đi!”. Câu này mượn ý của ông Đoàn Nguyên Đức, khi ông ta "rao hàng": “Hãy mua nhà đi, đừng chần chừ nữa” [1], cách đây hơn nửa năm.

Đừng mơ tưởng nữa

Đã đến lúc những ai còn mơ tưởng vực dậy thị trường này, nên tỉnh táo nhìn thẳng vào sự thật. Sự thật của cái chết không tài nào cứu nổi, bất chấp người cộng sản đang cố bằng mọi cách với những biện pháp tưởng chừng "quyết liệt" (chữ "đồng chí X" thích dùng) nhưng hoàn toàn bế tắc, tựa chú trăn, dù khổng lồ nhưng lỡ nuốt chửng con mồi to hơn cả nó, nên giờ đang nghẹn họng và chuẩn bị nôn ngược ra mà chết. Cái chết không tránh khỏi bởi lòng tham vô đáy. Quy luật muôn đời là thế.
Ở đây không bàn đến những "mưu ma chước quỷ" trong việc "sản xuất" ra "các loại luật" cùng các thủ đoạn cướp đất tàn nhẫn vô nhân đạo của bộ ba: giới cầm quyền - doanh nghiệp bất động sản - ngân hàng, bởi ai cũng biết "ba con quỷ" này quậy phá ra sao rồi.
Ở đây cũng không bàn đến giá thành bất động sản, bởi chỉ có "bộ ba" nói trên mới biết rõ trong cái gọi là "giá thành", các loại "chi phí đen" ngốn bao nhiêu trong đó, để dẫn đến giá bán vượt xa tầm với của người dân trung lưu và dân nghèo - số chiếm đông đảo trong xã hội.
Theo một khảo sát quốc tế [2] trong năm 2011, người lao động thu nhập thấp (dưới 2 đôla/ngày) chiếm 18,2% dân số (16,1 triệu người), người lao động thu nhập 5 đôla/ngày chiếm đến 70,4% dân số (63,1 triệu người). Tổng số khoảng 79,2 triệu người so với khoảng 89,2 triệu dân tại Việt Nam.
Dù khảo sát trên dự đoán năm 2012, tỉ lệ người thu nhập 5 đô/ngày sẽ giảm dần xuống 67,1%, nhưng thực tế dường như diễn ra ngược lại và ngày càng có xu hướng cho thấy 2 thành phần thu nhập nói trên, không những không giảm mà còn có dấu hiệu tăng lên, bởi các chuyên gia nói "tỉ lệ thất nghiệp thực tế phải gấp đến mười lần" [3] so với số báo cáo chỉ 1,99% (năm 2012).
Năm 2013, dân số Việt Nam vừa chào đón công dân thứ 90 triệu [4]. Ước số người thu nhập thấp (theo tỉ lệ như trên), chí ít vào khoảng trên dưới 80 - 81 triệu người. Số người thu nhập như thế, thì ăn còn chật vật, nói gì đến ở, dù là "nhà ở xã hội", sản phẩm mà chế độ cộng sản đang hướng dư luận tập trung vào, vẻ như lo cho người nghèo, chẳng qua để xoa dịu lòng dân đang chất ngất phẫn nộ, khi thu nhập của họ ngày càng kiệt quệ cùng tình trạng "nghèo hóa" ngày một gia tăng.
Đồng hồ nợ công thế giới [5] (The global debt clock) hôm 21/10/2013 đã điểm nợ Việt Nam đạt mức 76,706 tỉ USD, vị chi mỗi người Việt Nam đang gánh hơn 851 USD. Trong số nợ này, nhất định người dân chúng ta đang gánh cả cái thứ "của nợ" từ bộ "ba con quỷ" nói trên. Cho đến giờ này, không một số liệu "nợ xấu" nào, được các nhà quan sát độc lập ghi nhận như là con số có thể tin được.
Mặc dù ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho báo Tiền Phong hay [6], con số mới nhất mà ông ta "được biết" thì "nợ xấu" ngân hàng khoảng 400.000.000.000.000 đồng, tương đương 20 tỉ đô Mỹ. Tuy thế, ông Vũ Khoan chưa bao giờ tin [7] vào những con số đại loại như thế, dù những người làm thống kê đều là...đồng chí của ông ta (!). Tất nhiên, ông Thiên đã nói rất rõ bằng chữ "được biết", điều này có nghĩa con số không được phép biết, dù là "viện trưởng", cũng không biết... nổi (!). Con số thất nghiệp người ta còn mạnh miệng để "nhân 10 lần", thì con số nợ xấu dù giả sử chỉ tạm nhân đôi, cũng làm cho người dân đen rơi vào tình trạng "tối tăm mày mặt" bởi nhiều con số không đằng sau, gây hoa mắt đến choáng váng!
000_Hkg8903775-305.jpg
Khu vực đi bộ tại Vincom Royal City gần Trung tâm mua sắm Vincom Mega Mall ở Hà Nội ngày 17 tháng 8 năm 2013.
Dù cho những doanh nghiệp không kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản, thì tài sản thế chấp cho ngân hàng phần lớn cũng xuất phát từ bất động sản, đó là chưa kể cách gọi là "tín chấp" mà chính phủ ép ngân hàng cho các doanh nghiệp nhà nước vay lâu nay, như Vinashin hay EVN [8], PVN v.v..., nhưng những khoản vay vô tội vạ, vay mà không cần lo lắng như thế này, không những đút vào túi riêng, đổ sông đổ biển mà còn bị đẩy vào chứng khoán, ngân hàng và bất động sản một cách bừa bãi không kiểm soát nổi.
"Nợ xấu" không những đến từ đó, mà còn do giá bất động sản cao "tít trời" như ông Nguyễn Bá Thanh nói [9]: "Miếng đất giá trị 100 tỉ đồng, ông đưa lên 500 tỉ. Lẽ ra 100 tỉ thì được vay 60 tỉ, nhưng vì ông đưa lên 500 tỉ nên họ được vay 300 tỉ". Giờ đây, không những "300 tỉ" "đi đời nhà ma" mà ngay cái miếng đất đó, giá 100 tỉ cũng không còn... "nguyên vẹn", do giá đất đã qua thời sốt nóng từ lâu. Không những thế, cứ giả sử tịch biên được để phát mãi thu hồi nợ theo kiểu "của đổ hốt lại", cũng không chắc miếng đất chỉ có duy nhất một chủ nợ, bởi nó bị "giằng xé" từ "năm cha bảy chú" với thủ đoạn đem một tài sản cầm cố cho vài ngân hàng khác nhau [10], điều này do chính "đám lãnh đạo" ngân hàng góp tay mà ra. Đó gọi là "thiệt đơn thiệt kép" - như người ta hay nói.
Tuy nhiên, người cộng sản rất "thủy chung" với khái niệm "Kinh tế thị trường định hướng XHCN". Đó là loại tư duy quái đản nhất, họ vẫn không chịu gột rửa trong đầu. Thế là cứ đi "ăn mày" các nước nỗi khát khao "kinh tế thị trường". Chẳng có gì lạ, khi bà Virginia Foot nói [11]: "Đã hội nhập với thế giới, tham gia sân chơi chung toàn cầu, nhưng Việt Nam vẫn có cách làm ăn không giống ai".

"Định mức" 70m2 và giá dưới 15 triệu

Một điều oái oăm nữa, thử hỏi, dựa vào đâu để ban hành "tiêu chuẩn" theo gói 30.000 tỉ: giá căn hộ dưới 15 triệu đồng/m2 và diện tích dưới 70m2 thì được ưu đãi vay 6%/năm?
"Định mức" nói trên không phải phản ánh đầu óc đặc quánh "bao cấp" của "thời xa vắng" từ những năm 80 thế kỷ trước thì là gì? Không những thế, vô hình chung, chính cái "định mức" này trở thành "chuẩn mực chết" kìm hãm một thị trường tự do, vào lúc này cần phải được giải thoát hơn bao giờ hết. Quá tai hại! Tự người cộng sản đã mắc kẹt ngay trong "cái lồng" do họ tạo ra.
Các chủ đầu tư cứ theo đó mà loanh quanh sao cho gần với "chuẩn" này, thế cho nên, thay vì để thị trường tự điều tiết giá cả, tự định đoạt loại diện tích sao cho dễ bán (nghĩa là phù hợp với đa số người mua), nó trở thành cái thòng lọng thắt dần vào cổ các "đại gia" bất động sản, bởi hầu hết các dự án đang dở dang hay đã hoàn thành, tất cả đã xong quy hoạch và thiết kế từ lâu.
Trên thực tế, từ nhiều năm trước, các chủ đầu tư cũng không bao giờ thực hiện công tác điều tra nhu cầu nhà ở người dân một cách nghiêm túc, khi bắt tay làm dự án, thay vào đó, họ chỉ quảng cáo rầm rộ, với thiết kế "đậm chất tây", đầy hào nhoáng nhất thời mà không tính đến văn hóa nông nghiệp của dân Việt vẫn còn rất đậm.
Giả sử "định mức" 15 triệu đồng/m2 là hợp lý, thử hỏi một thị trường tự do đúng nghĩa, tại sao cần phải ngăn cản giới bất động sản giảm giá đến mức, cho tới khi nào người mua có thể chấp nhận? Điều đó có nghĩa, giá bán một mét vuông hoàn toàn không được phép nói tới khái niệm "đáy" hay "trần" trong tình hình hiện nay. Điều đó cũng phần nào giải thích thêm, tại sao "nhà nước" cứ thích "nghĩ thay, quyết thay, làm thay" cho giới bất động sản.
Không thể nói là không có "vấn đề"  trong "núi" bất động sản đang đông cứng (!) Ngoài ra, các chi phí hay gọi là "bôi trơn", trên thực tế, thường thuộc loại "chi phí ứng trước", giờ các đại gia bất động sản chắc khó có thể cam chịu "ôm hận" một mình, nên việc "nhà nước" tham gia vào "giải cứu" cũng là điều dễ hiểu. Một dạo một số chủ đầu tư đòi "chẻ nhỏ" diện tích ra còn 25m2/căn hộ, nhưng thực tế không thể làm vì sự hồ đồ và bất khả thi của cách nghĩ này.
Cái gọi là "giảm giá" hiện nay, thực chất không có, bởi chủ đầu tư dùng nhiều "thủ thuật" biến hóa: gian lận trong cách tính diện tích căn hộ, thay đổi vật liệu xây dựng rẻ tiền hơn, bớt xén các tiêu chuẩn quy định chất lượng trong xây dựng, chèn ép lương công nhân v.v... nó làm cho giá bán ngỡ là giảm, thực chất chỉ là chiêu lừa bịp, thậm chí nguy hiểm rình rập người dân, khi chọn những nơi như thế làm chốn an cư. Kể cả những lời hứa hão và những chiêu khuyến mãi khác nhưng không có tính chế tài khả thi, nó chỉ dùng để làm sao tống khứ hàng tồn kho càng nhanh, càng nhiều, càng tốt.
nha-xay-dung-het-von-2-305.jpg
Một công trình xây dựng bị tạm ngưng ở Hà Nội, ảnh chụp hôm 28-07-2012.
Dù có những căn hộ chưa hoàn thành, đang rao 45m2 với giá 500 triệu [11A], nhưng không ai dám chắc về chất lượng và tiện ích của những nơi này không làm chủ nhân mau chóng thất vọng khi dọn vào ở. Phát sinh tranh chấp rất dễ tiếp tục bùng nổ như đã bùng nổ trong thời gian qua. Bế tắc cho bất kỳ ai rơi vào trường hợp như thế, bởi dù có khởi kiện dân sự, phần thắng hiếm khi nào thuộc về cư dân với "thành quả" chỉ chuốc nỗi muộn phiền, phí phạm nhiều thời gian và tiền bạc cho mình. Nguyên nhân vì sao cư dân thường thua kiện hay vấp phải chây ì của chủ đầu tư, với sự bàng quan từ giới cầm quyền, thì ai cũng hiểu.
Ông Alan Phan đã từng bày tỏ: nhà chức trách chẳng cần làm gì để cứu bất động sản cả, hãy để nó "rơi tự do" [12]. Thật ra, người cộng sản biết đó là phương án duy nhất đúng. Đúng với quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường, nhưng họ không thể làm và không dám làm. Bởi thị trường bất động sản "rơi tự do" cũng có nghĩa, chính bản thân họ, gia đình họ, các phe cánh của họ cùng "rơi tự do" trong tình trạng cắm đầu xuống đất, chết chùm.

Thanh toán qua ngân hàng

Một dạo, giới cầm quyền đưa ra phương thức, dù đã được thế giới sử dụng từ rất lâu - mua bán nhà phải qua ngân hàng [13], nhưng cuối cùng họ vẫn không đưa công cụ quản lý kinh tế quan trọng này vào thực tế. Lý do ai cũng hiểu, khi công cụ "ích nước lợi nhà" này khai triển, người cộng sản chỉ có... chết ngắc!
Giờ đây, họ hí hoáy gọi là gỡ khó cho "cái gói 30.000 tỉ đồng" mà sau gần nửa năm trời, giải ngân được... hơn 1% [14](!). Trong đó:
- Giải ngân cho 905 khách hàng với dự nợ 220,9 tỷ đồng/21.000 tỉ đồng.
- Giải ngân cho 7 doanh nghiệp với dư nợ 122,6 tỉ đồng/9.000 tỉ đồng.
Vẫn tiếp tục lì lợm, "bộ ba tam giác" "quậy" cho thị trường bất động sản nát bét, nay cũng chính họ đòi "gỡ khó" (!). Trịnh Đình Dũng - Bộ trưởng Bộ Xây dựng nói [15]: "... vấn đề quan trọng không phải là nhanh hay chậm mà phải đúng đối tượng". Trước đây, khi đưa ra vụ "30.000 tỉ", họ nói  để giải quyết hàng bất động sản tồn kho. Nay, họ "định hướng" lại, nói là vì người nghèo (?!).
Các thủ tục nặng nề trong "gói cứu trợ", vẫn phô bày rõ, người dân hiện nay không khác gì đang sống thời kinh tế chỉ huy tập trung, bao cấp: xét duyệt, chứng nhận từ phường xã, cơ quan làm việc về việc chưa có nhà, đủ thu nhập trả nợ v.v... Nó tỏ ra vô cùng lạc hậu, ấu trĩ trong thời buổi công nghệ thông tin. Không những các thủ tục đó làm khó và cản bước người nghèo mong muốn có "căn nhà mơ ước", giới cầm quyền vẫn bộc lộ thứ "tư duy thủ công" đến thảm hại.
Chỉ mỗi việc chứng minh khả năng người vay có đủ khả năng trả nợ trong tình hình kinh tế vỡ nát, cũng  làm các ngân hàng chùn tay cho vay. Với tư cách bên cho vay, làm sao ngân hàng đủ can đảm mở rộng túi tiền (dù cứ tạm cho là có) cho người nghèo, khi ở vào thế "nắm dao đằng lưỡi", khi tâm lý "con chim sợ cành cong" còn nguyên đó, do giới cầm quyền và chính nội bộ ngân hàng tạo ra từ núi nợ đầm đìa cùng hàng loạt "viên chức ngân hàng" xộ khám? Nhu cầu thu hồi đủ vốn và lãi từ các hợp đồng cho vay vẫn là chân lý không thể chối cãi. Đừng vay mượn thêm nữa cái gọi là kinh doanh để "phục vụ chính trị" hay "an sinh xã hội". Nó đã hết thời lâu rồi với di họa đầy dãy, từ thủ đoạn đánh lận đó.
Điều lẽ ra nên làm và làm từ rất lâu, ít nhất  khi vừa được Mỹ bỏ cấm vận, làm bước đệm cho Việt Nam hội nhập thế giới, đó chính là "mã số cá nhân" - tiền đề để mỗi người đều có (ít nhất) một tài khoản và mọi thứ đều phải thanh toán qua ngân hàng. Đó là cách giải quyết khoa học, nhẹ nhàng, hiệu quả nhất cho cả phía cho vay lẫn bên vay, trong việc mua bán bất động sản. Người cộng sản đã không làm, do họ nhìn thấy trước "tai họa" từ việc làm này mang tới.
Bây giờ, giới cầm quyền định kết hợp với Ngô Bảo Châu làm việc này [16], có vẻ họ nói cho qua chuyện, bởi thật tâm làm, đó là "gót chân achilles", nó  sẵn sàng tố cáo toàn bộ gia sản cùng những phi vụ mờ ám của tất cả những "con bạch tuộc" khổng lồ trong thế giới "mafia đỏ". Người cộng sản phải chết. Do đó, quá khó để tin họ thật sự muốn quản lý hiện đại, văn minh như các nước nhằm phục vụ tốt cho dân.
Tuy nhiên, không có nghĩa thế giới không biết tài sản của họ ở đâu và bao nhiêu, bởi [17] "...Thụy Sĩ không còn là vùng đất hứa của những đồng tiền bất chính đã làm thất vọng những nhà độc tài trên thế giới". Không chỉ riêng Thụy Sĩ, đài BBC có bài "Miến Điện dân chủ hóa hay tự diễn biến?" [18], trong đó cho hay, có một "danh sách đen" của các nhân vật đầu sỏ Miến Điện lên tới hơn 900 người, mà tài sản của họ bị Hoa Kỳ và Cộng đồng Âu Châu quyết định đóng băng tại hải ngoại, dựa theo tài liệu công bố hồi tháng 11 năm 2007.  Chỉ là chưa đến lúc tài sản chìm nổi các "đại gia đỏ" Việt Nam bị phơi ra trước công luận. Trước sau gì cũng đến ngày đó.

Kết

Gói 30.000 tỉ đồng đã bộc lộ tất cả những sai trái, duy ý chí, chống lại quy luật kinh tế. Nhận lãnh thất bại, nhưng người cộng sản vẫn cực đoan để đưa ra hàng loạt  "giải pháp" rối rắm, nhiêu khê và lý thuyết suông. Thậm chí, dù  có tuân theo quy luật kinh tế khách quan, "gói giải cứu" cũng quá ít ỏi và trễ tràng so với tình hình kinh tế bi đát cùng hiện trạng bất động sản vô phương sống sót như người viết ví von qua hình ảnh chú trăn tham lam đến chết nghẹn.

Nguyễn Ngọc Già, Việt Nam 26-11-2013

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA
________________
http://tinnhanhchungkhoan.vn/GL/N/DJDJIG/bau-duc:--hay-mua-nha-di-dung-chan-chu-nua.html[1]
http://thebusiness.vn/Home/Article/1335/VN-nhieu-dan-ngheo-gan-nhat-khu-vuc[2]
http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/kinh-vit-nam.html[3]
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/viet-nam-don-cong-dan-thu-90-trieu-2904080.html[4].
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131021/moi-nguoi-viet-ganh-hon-851-usd-no-cong.aspx[5]
http://www.baodatviet.vn/kinh-te/thi-truong/tien-xu-ly-tram-ngan-ty-no-xau-lay-tu-dau-2209294/[6]
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/ong-vu-khoan-toi-khong-dam-tin-so-lieu-thong-ke-2884247.html[7]
http://vneconomy.vn/20131009042052123P0C6/cac-ngan-hang-cho-evn-vay-118840-ty-dong.htm[8]
http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=526842[9]
http://www.tienphong.vn/Phap-Luat/577634/Lam-sao-de-ngan-ngua-ban-tai-san-cho-nhieu-nguoi-tpp.html[10]
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-07-12-viet-nam-van-lam-an-khong-giong-ai-[11]
http://vtc.vn/1-462337/kinh-te/sot-can-ho-nho-chenh-hang-chuc-trieu-dong.htm[11A]
http://laodong.com.vn/kinh-doanh/ts-alan-phan-nen-de-thi-truong-bat-dong-san-roi-tu-do-107708.bld[12]
http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/611781/Mua-ban-nha-xe-phai-qua-ngan-hang-tpol.html[13]
http://infonet.vn/Kinh-doanh/Tien-te/Goi-30000-ty-moi-giai-ngan-duoc-tren-1/120031.info[14]
http://batdongsan.com.vn/phan-tich-nhan-dinh/bo-truong-trinh-dinh-dung-goi-30-000-ti-se-go-kho-cho-noxh-r53566[15]
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/567673/moi-gs-ngo-bao-chau-tham-gia-don-gian-hoa-giay-to.html[16]
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/state-succession-the-us-law-transfer-possession-to-next-government-ml-02162011172027.html[17]
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2011/12/111225_burma_analysis_lythaihung.shtml[18]

Copy từ: RFA


..............