CHƯA TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐỜI.
Hiển thị các bài đăng có nhãn TÌM HIỂU NHÂN VẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TÌM HIỂU NHÂN VẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013
Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013
“Hãy nối chí tôi”: bảo vệ và kiến thiết Tổ quốc
Nguyễn Hội (Danlambao) - “Nếu
bọn cộng sản Việt Nam thắng, thì quốc-gia Việt-Nam cũng sẽ bị tiêu-diệt
và sẽ biến thành một tỉnh nhỏ của Trung-hoa Cộng-sản. Hơn nữa toàn-dân
sẽ phải sống mãi mãi dưới ách độc tài của một bọn vong bản vô gia đình,
vô tổ quốc, vô tôn giáo.” Ngô Đình Diệm (Khánh Thành Đập Đồng Cam, Tuy-Hòa 17-9-1955).
* * *
Quốc gia, Tổ quốc là đầu mối đem lại sung túc cho mỗi gia đình, cho từng từng cá nhân. Tác giả đã từng ví quốc gia như là một căn nhà mà mỗi gia đình tiêu biểu cho từng căn phòng ở trong căn nhà đó. Nếu căn nhà vững chắc về mọi mặt thì các phòng trong nhà luôn được yên ổn, an toàn. Ngược lại nếu căn nhà èo uột, mái nhà dột nát thì chỉ một cơn bão thổi đến cũng đủ phá sập nhà và các căn phòng trong nhà mặc dù kiên cố vẫn bị hư hại, dột ướt. Cuộc khủng hoảng Âu châu vừa qua đã chứng minh được giả thuyết nêu trên. Một nghiên cứu của Ngân hàng trung ương Âu châu (ECB) cho biết tài sản trung bình của người dân Hy Lạp là 101.900 EUR, của người dân Tây Ban Nha là 182.700 EUR và của người dân cyprus là 266.900 EUR. Trong khi đó gia tài trung bình của người dân Đức chỉ có 51.400 EUR mà thôi [1]. Mặc dù Ngân hàng trung ương Âu châu cho biết phương pháp tính có thể có lỗi lầm là họ dùng Median chứ không dùng Average. Nhưng thông thường trong một tập hợp to lớn với chục triệu phần tử thì khác biệt giữa Median và Average không cao lắm.
* * *
Quốc gia, Tổ quốc là đầu mối đem lại sung túc cho mỗi gia đình, cho từng từng cá nhân. Tác giả đã từng ví quốc gia như là một căn nhà mà mỗi gia đình tiêu biểu cho từng căn phòng ở trong căn nhà đó. Nếu căn nhà vững chắc về mọi mặt thì các phòng trong nhà luôn được yên ổn, an toàn. Ngược lại nếu căn nhà èo uột, mái nhà dột nát thì chỉ một cơn bão thổi đến cũng đủ phá sập nhà và các căn phòng trong nhà mặc dù kiên cố vẫn bị hư hại, dột ướt. Cuộc khủng hoảng Âu châu vừa qua đã chứng minh được giả thuyết nêu trên. Một nghiên cứu của Ngân hàng trung ương Âu châu (ECB) cho biết tài sản trung bình của người dân Hy Lạp là 101.900 EUR, của người dân Tây Ban Nha là 182.700 EUR và của người dân cyprus là 266.900 EUR. Trong khi đó gia tài trung bình của người dân Đức chỉ có 51.400 EUR mà thôi [1]. Mặc dù Ngân hàng trung ương Âu châu cho biết phương pháp tính có thể có lỗi lầm là họ dùng Median chứ không dùng Average. Nhưng thông thường trong một tập hợp to lớn với chục triệu phần tử thì khác biệt giữa Median và Average không cao lắm.
Nước Đức vẫn vững chắc qua các cuộc khủng hoảng vừa qua. Các nước Hy
Lạp, Cyprus, Tây Ban Nha gần như phá sản phải nhờ đến sự giúp đỡ tài
chánh của nước Đức được hình thành bởi những người dân nghèo hơn mới
được sống còn. Qua đó giả thuyết dân có giầu thì nước mới mạnh là không
đúng. Ngược lại, mỗi người dân phải có nhiệm vụ đóng góp xây dựng đất
nước, xây dựng quốc gia cho vững mạnh, xây dựng một chính quyền vững
mạnh.
Điều kiện tiên quyết cho một quốc gia vững mạnh là quốc gia đó phải có
một chính quyền mạnh, biết cách lèo lái, điều khiển nhân lực và tài
nguyên hiện hữu trên quốc gia nhằm đạt được kết quả cao nhất. Vào thập
niên 90 trong lãnh vực kinh tế phát triển cho những quốc gia chậm tiến
có xuất hiện danh từ “good Governance”, danh từ này được wikipedia giải
thích như sau: điều hành tốt một xã hội. Điều hành bao gồm công việc
điều khiển và quản trị xã hội, trong đó có cả việc quản lý tốt ngân sách
tài chính. Điều hành kém (bad Governance) được đề cập đến khi việc quản
lý và kiểm soát xã hội bị thất bại. Trái ngược với điều hành tốt, trong
điều hành kém không có sự minh bạch, pháp luật không nghiêm minh, tham
nhũng tràn lan. Công dân phải chấp nhận sự tùy tiện của những người cầm
quyền và công dân ít có hoặc không có cơ hội tham gia vào công việc
chính trị.
Trong một cuộc phỏng vấn trước đây 10 năm, cũng vào thới điểm này với
đài phát thanh Úc châu, Tiến sĩ sử gia Hoàng Ngọc Thành nhận xét là chế
độ chính phủ Ngô Đình Diệm là một chế độ mạnh. Cho đến nay chưa có một
nhận xét nào ngược lại với nhận xét trên có tính thuyết phục.
Việt Nam Cộng Hòa và Đại Hàn (South Korea)
Tương tự như Việt Nam, Đại Hàn sau thế chiến thứ hai năm 1945 cũng bị
chia đôi, nghĩa là trước Việt Nam 9 năm. Sau khi nhậm chức vào năm 1954,
chính phủ Ngô Đình Diệm phải đương đầu với rất nhiều khó khăn. Trong
bài “Một cách hiểu về Ngô Đình Diệm” Tiến sĩ Roland Frankum nhận xét
tình hình miền Nam Việt Nam khi TT Ngô Đình Diệm về chấp chánh như sau:
“Khi tạo ra Việt Nam Cộng Hòa từ tro tàn của gần 100 năm Pháp đô hộ,
Diệm đối diện rất nhiều thử thách; chúng định hình chính sách và quyết
định số phận của ông. Diệm thừa hưởng một tình thế khó khăn; thực dân
Pháp đẩy người Việt xuống hàng công dân hạng hai, không cho họ kiến thức
và kinh nghiệm trị nước.
Trải nghiệm thực dân và thời gian chiếm đóng tàn nhẫn của Nhật thời
Thế chiến Hai khiến đất nước chia rẽ về ý thức hệ, tôn giáo, văn hóa, xã
hội. Ban bệ của Diệm lại không có mấy người có kinh nghiệm quản trị,
nhiều người thì nuôi dưỡng sự nghi ngờ chính quyền Sài Gòn. [2]”
Hơn thế, chính phủ Ngô Đình Diệm còn phải đối đầu với những nan giải sau:
- Ổn định an ninh xã hội qua việc đánh dẹp các phe Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo, thân Pháp, thân Cộng.
- Giải quyết những phá hoại ngầm của chính phủ Pháp.
- Ổn định đời sống cho gần một triệu người di cư từ miền Bắc
- đối phó với những phá hoại của cộng sản
- Xây dựng nền kinh tế tự chủ từ một nền kinh tế thuộc địa què quặt.
- Vận động cộng đồng quốc tế công nhận VNCH
Mặc dù Đại Hàn không có hoặc có nhưng đã giải quyết xong các khó khăn
nêu trên mà chính quyền Ngô Đình Diệm đang phải chống cự, nhưng vào năm
1960 GDP đầu người của người dân Đại Hàn (south Korea) mới được 155 USD[3],
trong khi đó dân miền Nam Việt Nam đã vượt trội hơn với 223 USD (miền
Bắc 73 USD)[3]. Nghĩa là vào năm 1960 GDP đầu người của Đại Hàn chỉ bằng
69% của VNCH và hơn gấp đôi so với miền Bắc cộng sản.
Tại miền Nam Việt Nam người Pháp đã áp đặt một chế độ thực dân thuần túy
là chỉ nhằm khai thác tài nguyên chứ không hề xây dựng nhà máy công
nghiệp có tính chất phát triển lâu dài như Nhật đã thực hiện tại Đại
Hàn. Vào năm 1954 kỹ nghệ sản xuất tại miền Nam Việt Nam chỉ bao gồm sản
xuất bia, nước uống và thuốc lá. Song song việc xây cất hạ tầng cơ sở
như đường bộ, đường sắt và xây dựng các ngành kỹ nghệ như xi măng, thủy
tinh, giấy, hoá chất, điện, nghiên cứu hạt nhân vv… chính phủ Ngô Đình
Diệm đặc biệt cho phát triển ngành giáo dục từ tiểu học đến đại học cùng
các biện pháp khuyến khích phát triển nông nghiệp là ngành nuôi sống
phần lớn dân chúng thời bấy giờ. Vào năm 1963 sản phẩm sản xuất công
nghiệp chiếm 12% tổng sản lượng nội địa.
Sự phát triển của miền Nam Việt Nam đã được William E. Colby ghi nhận như sau khi ông tới thăm các vùng thôn quê Việt Nam: “Đường
xá được mở lại. Số trường học tăng nhanh ở thôn quê. Chương trình ngũ
niên xịt thuốc diệt muỗi được khởi sự để thanh toán bệnh sốt rét rừng.
Sức sản xuất lúa gạo bắt đầu tăng... Những tiến bộ về kinh tế, xã hội
lúc đó đã xuống đến nông thôn... Đặc biệt kế hoạch “Khu trù mật” năm
1959, là kế hoạch được ông Diệm nâng niu nhất, bắt đầu với nhiều hứa
hẹn. Những “đô thị” nông nghiệp được xây dựng trên phần đất truất hữu
của địa chủ theo chương trình cải cách điền địa và được chia thành những
khu trung tâm dân cư và vùng ruộng lúa...[4]” .
Thực vậy, vào năm 1963, VNCH xuất cảng 323 ngàn tấn gạo, đứng hàng thứ
tư trên thế giới về xuất cảng gạo trên thế giới, nhưng chỉ 4 năm sau,
vào năm 1967 VNCH phải nhập cảng 770 ngàn tấn gạo[5].
Từ năm 1960, đặc biệt sau khi Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam được
thành lập người cộng sản bắt đầu tổ chức du kích phá hoại gây trở ngại
cho công việc làm ăn của người dân ở thôn quê. Điều này biểu lộ rõ ràng
qua ngành xuất cảng tại miền Nam Việt Nam. Biểu đồ sau đây so sánh xuất
cảng của miền Nam Việt Nam và của Đại Hàn từ năm 1955 cho đến năm 1967:
Trước năm 1961 xuất cảng của miền Nam Việt Nam cao hơn Đại Hàn, và có
thể nói tương đương với Đại Hàn trong hai năm 1962 và 1963. Nhưng từ năm
1964 Đại Hàn vượt trội hẳn.
Yêu nước, thương dân
Các chuyên gia trong lãnh vực good Governance thường xác định sự đồng
thuận giữa dân chủ và good governance của quốc gia. Bởi vì trong một
quốc gia có dân chủ việc làm của chính phủ được kiểm soát bởi các đảng
phái đối lập, của báo chí độc lập và của chính người dân sinh sống trong
quốc gia đó. Chính phủ qua đó làm việc rõ ràng, minh bạch, cố gắng hết
sức đạt nhiều kết quả tốt đẹp nhất cho quốc gia hầu có thể được đắc cử
trong lần bầu cử kế tiếp.
Ở những quốc gia chưa có nền móng dân chủ sẵn, điều kiện để có được một
chính quyền mạnh là chính phủ này phải có tinh thần trách nhiệm cao đối
với đất nước và dân tộc, đồng nghĩa với yêu nước, thương dân. Điều kiện
nêu trên đã được chứng minh tại Đại Hàn, Đài Loan, Do Thái vv…
Năm 1949 Quốc gia Việt Nam ra đời do Quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu, có
nhiều nguồn tin cho là Chí sĩ Ngô Đình Diệm đứng ra đảm nhận chức Thủ
tướng. Ông đã viết lời tuyên bố gửi đồng bào có đoạn như sau:
Trước hết tôi tin chắc rằng nguyện vọng của dân tộc Việt Nam chỉ thỏa
mãn khi Tổ quốc chúng ta hưởng được một chế độ chính trị như các nước
Ấn, Hồi. Sự bang giao hữu nghị giữa Pháp và Việt Nam sẽ được vững chãi,
khi nào đôi bên đều bình đẳng và có tình huynh đệ trong một khối cộng
đồng các dân tộc ở trong “Liên Hiệp Pháp”.
Thứ đến, nên biết rằng cuộc tranh đấu hiện tại không phải chỉ là cuộc
chiến đấu cho độc lập Tổ quốc về phương diện chính trị mà thôi, mà còn
là một cuộc cách mạng xã hội để đem lại cho nông dân và thợ thuyền Việt
Nam. Để cho tất cả mọi người trong nước Việt Nam mới có đủ phương tiện
để sống xứng đáng với phẩm cách con người, con người tự do thực sự. Tôi
chủ trương những sự cải cách xã hội hết sức tân tiến và mạnh bạo, miễn
là phẩm cách con người vẫn luôn luôn được tôn trọng và được tự do nảy
nở.[6]
Với lời tuyên bố trên đây Chí sĩ Ngô Đình Diệm đã nêu điều kiện để ông
đảm nhiệm trọng trách điều hành quốc gia là Việt Nam phải có được chủ
quyền như các nước Ấn, Hồi vừa được độc lập từ năm 1947. Vì có được chủ
quyền thì người Việt chúng ta mới có thể kiến thiết quốc gia, tiến hành
một cuộc cách mạng cải thiện xã hội bất công của thực dân Pháp để lại.
Đồng thời con người, nhân phẩm con người và tự do được đặt là mục đích,
phải được duy trì, tôn trọng trong “những sự cải cách xã hội hết sức tân
tiến và mạnh bạo” .
Để có thể đạt được mục đích “mọi người trong nước Việt Nam có đủ phương
tiện để sống xứng đáng với phẩm cách con người, con người tự do thực sự”
TT Ngô Đình Diệm và bào đệ là ông Ngô Đình Nhu đã phát triển Chủ Thuyết
Nhân Vị. Chủ thuyết này được TT Ngô Đình Diệm cho biết khái quát vào
năm 1955 như sau: “Chủ Nghĩa Nhân Vị cho rằng dân chủ của Cộng Sản
độc tài chà đạp phẩm giá con người, coi người như con vật. Chủ Nghĩa
Nhân Vị cũng bác bỏ loại dân chủ muốn đặt tư bản phong kiến trên tần lớp
cần lao, và chủ trương chế độ thực dân để bóc lột những dân tộc nhược
tiểu.”.
Chủ Nghĩa Nhân vị
Vị có nghĩa là địa vị, chỗ đứng. Nhân có nghĩa là người, rộng hơn Nhân
còn có nghĩa là đạo lý làm nguời, thí dụ như câu dậy con trong Gia Huấn
Ca: «ở cho có Đức có Nhân». Trong Khổng học, để thành Nhân con người
phải trải qua giai đoạn rèn luyện, tu luyện bản thân: Tu Thân.
Vũ trụ quan của Việt Nho (khác với Hán Nho) cho rằng trong vũ trụ này có
ba quyền lực lớn, đó là Trời, Đất và Con Người. Vị trí con người được
đặt ngang với Trời và Đất. Con người chính là nơi hội tụ của Trời Đất,
do đó con người là nơi hôi tụ của mọi đối cực: tinh thần và vật chất,
tình và lý, đúng và sai, quyền lợi cá nhân và lợi ích xã hội vv… Để có
thể hành xử đúng, con người phải biết rèn luyện, tu thân, học hỏi bền
bỉ.
Chủ nghĩa Nhân Vị do đó là một chủ nghĩa vì giá trị con người. Con người
là trọng tâm của mọi hành động, mọi quyết định trong xã hội. Đồng thời
chủ nghĩa Nhân Vị còn qui định trách nhiệm của mỗi con dân trong xã hội
luôn phải rèn luyện bản thân và hành động vì lợi ích chung của xã hội.
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn giải thích Chủ nghĩa Nhân Vị như sau “chủ thuyết
Nhân Vị là một triết lý nhằm xác định và đề cao giá trị con người, vị
trí của con người trong tương quan với vũ trụ, với người khác và trong
cộng đồng xã hội. đồng thời là một chủ thuyết chính trị chủ trương thiết
lập những định chế thích hợp để tạo cơ hội và khuyến khích việc phát
triển các giá trị nầy đến mức cao rộng nhất và hương về việc phục vụ
hạnh phúc con người. Chủ Nghĩa Nhân Vị lấy “con người biết tu thân (thái
hòa)” làm nền tảng cho giải pháp, để giải quyết các mâu thuẫn trong
sinh hoạt của con người.[7]“.
Nhận định của chuyên gia ngoại quốc
Tiến sĩ sử Philip Catton thuộc đại học Canterbury nhận xét: “Ông
(Diệm) muốn một nhà nước không sao chép cả tư bản lẫn cộng sản. Ông muốn
một xã hội lấy cảm hứng từ mô hình văn hóa xã hội truyền thống của Việt
Nam – vừa hiện đại nhưng hình như cũng phải thuần Việt.[8]”
Theo Tiến sĩ Edward Miller “Ông (Diệm) là một nhà chính trị xảo trí
và là một nhà lãnh đạo “dân chủ” với một đường lối chấn hưng đất nước
dựa trên cơ sở gắn kết có chọn lọc tư tưởng Thiên Chúa giáo, Khổng giáo,
và sự đặc trưng chủ nghĩa dân tộc của Việt Nam.[9]”
Tiến sĩ sử học Ronald Frankum viết trong một bài viết cho BBC là “Các
quan chức phụ trách đối ngoại của Kennedy đụng độ với Diệm vì họ không
bao giờ cố gắng tìm hiểu bản chất của sự trị quốc tại Việt Nam … Dù có
một số thành công, một vài thất bại, Ngô Đình Diệm đã lãnh đạo đất nước
theo cách tốt nhất có thể, trong hoàn cảnh chiến tranh và cách mạng ông
phải đối đầu hàng ngày.[2]”.
Sử gia Henry Fairbanks đã tóm tắt sự thật lịch sử này bằng lời lẽ khách
quan, trong một bài báo tưạ đề “The Enigma of Ngô Đình Diệm”, được đăng
trong tờ Commonweal, như sau:
“Ông Diệm tìm kiếm và khôi phục laị những giá-trị cổ-truyền làm nền
tảng cho giaỉ-pháp canh tân xứ sở trong khi đó những người khác laị đi
tìm những học thuyết ngoại lai... Dù sao đi nữa, Ông ta vẫn là một người
có cái nhìn sâu sắc về tương lai. Cả thế giới này đều yêu mến các
chiến-sĩ dũng cảm và ai ai cũng phải nể trọng những kẻ đeo đuổi một
lý-tưởng cao cả nào đó. Ông Diệm ao ước thực hiện một nhà-nước được xây
dựng trên những giá-trị cổ-truyền tốt đẹp nhất của Á-châu và Tây-phương,
những đặc điểm đúng đắn và khả thi nhất để phục vụ quyền-lơị chung và
tôn trọng nhân-phẩm. Ông Diệm cho rằng Xã-Hội Chủ-nghiã và Tư-bản
Chủ-nghĩa đều là những học-thuyết cực-đoan cần có một hình-thức
trung-gian, một lực lượng đứng giữa, nhằm tổng hợp được những giá-trị
ưu-tú nhất của cả hai để phục vụ cho lợi ích chung: công bằng đối với
người này là tự-do của kẻ khác, cũng như loại bỏ độc tài toàn chế và
tinh thần vô trách nhiệm của Chủ-nghĩa cá-nhân.”[10] (21-9-1962, tr.516)
Nhận xét của đối lập về Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Cựu đại sứ Bùi Diễm, thành viên đảng Đại Việt trả lời một cuộc phỏng vấn vào năm 2003 như sau: “Thực
sự ra mà nói thì mặc dù tôi thuộc lớp người chống chế độ ông Diệm,
nhưng mà tôi cũng phải thành thực công nhận rằng, ông ấy là người yêu
nước. Ông ấy là người trong sạch. Ông ấy đóng góp nhiều cho việc xây
dựng miền Nam thành một quốc gia khá qui củ, nền nếp, uy tín: không thua
kém gì các nước khác trong vùng vừa lấy lại nền độc lập.[11]”.
Ông Bùi Tín, cựu Đại Tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, phó Tổng biên tập
báo Nhân Dân, phát biểu ý kiến khi được hỏi về khác biệt giữa ông Ngô
Đình Diệm và ông Hồ Chí Minh cũng trong buổi phỏng vấn của đài phát
thanh Úc châu vào năm 2003:
“ … Về vấn đề yêu nước mà có lợi cho đất nước thì tôi nghĩ ông Hồ Chí
Minh đã đưa học thuyết Mác-Lênin về mà cho tới nay nhiều người vẫn còn
sùng bái. Theo tôi học thuyết đó không ích lợi lắm, thậm chí còn tai hại
cho đất nước vì dẫn đến chiến tranh.
Bởi vì cơ bản của học thuyết Mác-Lenin là đấu tranh giai cấp. Cơ bản
của học thuyết này là cổ súy bạo lực. Chính đó là nguyên nhân dẫn đến
chiến tranh…
… Bây giờ càng ngày càng có nhiều người, ngay cả những người ở trong
nước, nhìn nhận ra rằng chủ nghĩa Mác_Lênin là học thuyết không phải đem
lợi, mà thậm chí đem lại tai hại cho đất nước.
Do đó nếu so sánh về yêu nước thì tôi nghĩ rằng ông Hồ Chí Minh đã đi
vào con đường không được đứng đắn lắm. Thế còn về nhân cách, về lòng
trung thành với đất nước, về tinh thần dân tộc, đặc biệt là về tinh thần
dân tộc, tôi nghĩ ông Hồ Chí minh không có tinh thần dân tộc lắm đâu.
Cho nên ông mới đi lấy học thuyết ngoại lai về, mà theo tôi những học
thuyết ngoại lai này rất không có lợi cho đất nước.
Còn về tinh thần dân tộc của ông Diệm thì rõ ràng ông chống lại việc
người Mỹ đưa quá nhiều quân vào và đưa bom đạn vào. Tôi nghĩ rằng đấy là
tinh thần dân tộc. Ông ấy chống Pháp, và đòi lại cái quyền cai trị Bắc
Kỳ cho chính phủ Nam Triều. Đó là một thái độ rất dân tộc.
Thêm điều nữa là trong vấn đề đạo đức. Về đạo đức thì đúng là người
ta thường so sánh về chỗ là hai ông đều không có vợ, đều không có con.
(cười)
Nhưng thật ra thì bây giờ, bao nhiêu tư liệu ở Quảng Châu, ở Bắc
Kinh, ở Pháp, ở Moscow đều nói rõ là ông Hồ Chí Minh có cưới vợ đàng
hoàng.
Bà vợ ông Hồ là bà Tăng Tuyết Minh ở Quảng Châu. Ngoài ra ông Hồ còn
có đủ thứ: ông có người yêu ở Nga, ở Đức, ở Pháp và nhất là ông chung
sống với bà Nguyễn Thị Minh Khai nữa…
… Tất nhiên có vợ có con là chuyện bình thường, nhưng mà cái nghiêm
trọng là cái sự che dấu sự thật, tỏ vẻ mình như là một nhà hiền triết
tuyệt đối …
Ông Ngô Đình Diệm là một con người, tuy không phải tu hành nhưng ông
quả là một nhà chân tu. Ông Diệm không có vợ, không có con, không có
chuyện tửu sắc v.v…
Tôi nghĩ rằng, đứng về mặt đạo đức Á Đông thì rõ ràng về mặt đó. Tôi tôn trọng ông Ngô Đính Diệm hơn ông Hồ Chí Minh.”
Kết luận
Đệ Nhất Cộng hoà sụp đổ đã đúng 50 năm. Các quốc gia trước đây ngang tầm
chúng ta đã vươn lên mạnh mẽ nhưng Tổ quốc Việt Nam của chúng ta không
những không tiến tới mà còn đi lùi ngược trở lại về mọi mặt, cả về kinh
tế, đặc biệt là đạo đức xã hội suy đồi nặng nề và tinh thần thiếu trách
nhiệm của người công dân trong xã hội ngày càng tăng. Đành rằng trách
nhiệm chính là do nhà cầm quyền độc tài cộng sản vì họ chủ trương biến
người dân thành những con cừu non để tha hồ thao túng đất nước. Nhưng
người dân chúng ta cũng có lỗi, vì chúng ta đặt quyền lợi bản thân lên
trên tất cả, không dám lên tiếng đòi hỏi cải thiện xã hội, cải thiện Tổ
quốc như các công dân can đảm như Lê thị Công Nhân, Nguyễn Uyên Phương,
Huỳnh Thục Vi, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức vv…
Khi nào cái quái thai “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam còn tồn tại thì Việt Nam vẫn
còn khập khễnh, bóc lột, bất công còn tồn tại và người dân Việt vẫn chỉ
là những kẻ nô lệ cho giai cấp thống trị là lãnh đạo đảng và nhà nước
“ngồi mát ăn bát vàng” mà thôi.
Tổ quốc không chỉ của riêng ai mà thuộc về tất cả mọi công dân nước
Việt. Đã đến lúc tất cả người dân Việt cùng nhau nhận lãnh trách nhiệm
cải thiện xã hội, sẵn sàng thay thế đảng cộng sản điều hành đất nước.
Nếu hàng triệu người dân Việt cùng đồng lòng xuống đường đòi hỏi quyền
công dân, đòi hỏi quyền quyết định vận mạng đất nước thì chắc chắn quê
hương chúng ta sẽ mau chóng được tự do, dân chủ để mọi người chúng ta
được tham gia kiến thiết đất nước một cách thiết thực.
Nếu lợi ích của đất nước luôn đặt lên hàng đầu, với khả năng thiên phú
và sự cần cù của người dân Việt, đất nước chúng ta chắc chắn sẽ mau
chóng giầu mạnh để chúng ta không phải hổ thẹn với tiền nhân, đặc biệt
với vị anh hùng dân tộc thời đại là Ngô Đình Diệm vì chúng ta đã “nối
chí” Ông là bảo vệ và kiến thiến Tổ quốc.
2/11/2013
P/s: “Nếu bọn cộng sản Việt Nam thắng, thì quốc-gia
Việt-Nam cũng sẽ bị tiêu-diệt và sẽ biến thành một tỉnh nhỏ của
Trung-hoa Cộng-sản. Hơn nữa toàn-dân sẽ phải sống mãi mãi dưới ách độc
tài của một bọn vong bản vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo.” Ngô Đình Diệm (Khánh Thành Đập Đồng Cam, Tuy-Hòa 17-9-1955)
Chú thích:
[1]. nguồn: EZB-Studie: Vermögen in Griechenland größer als in Deutschland http://www.spiegel.de/wirtschaft/soziales/ezb-vermoegen-in-griechenland-groesser-als-in-deutschland-a-893412.html
[2]. Tiến sĩ Ronald Frankum: Một cách hiểu về Ngô Đình Diệm http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/10/081028_frankum_ngodinhdiem.shtml
[3]. N . http://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.PCAP.CD/countries; wikipedia.org;10 Surprises of Korea (1950-2007): http://www.koreatimes.co.kr/www/news/nation/2007/10/116_12432.html;
[4]. Minh Võ: NGÔ ĐÌNH DIỆM: Lời Khen Tiếng Chê
[5]. Douglas C. Dacy: Foreign aid, war and economic development south Vietnam 1955-1975, Cambridge 1986
[6]. Lời tuyên bố của chí sĩ Ngô Đình Diệm ngày 16 tháng 6 năm 1949http://ngodinhdiem.net/ChinhTri/NDD/LoiTuyenBo.html
[7]. Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn: CHỦ NGHĨA NHÂN VỊ, Con Đường Mới, Con Đường của Tiến Bộ.
[8]. Dr. Philip Catton: Liên minh bất hòa: Ngô Đình Diệm và Mỹ
[9]. Edward Miller: Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United
States, and the fat of South Vietnam, tr. 137-138. Văn Cầm Hải: Ngô
Đình Diệm và cuộc chiến kiến quốc.
[11]. Xin xem: http://ngodinhdiem.net/ChinhTri/VNCH/TraLaiSuThatChoLichSu/TraLaiSuThatChoLichSu.html
Copy từ: Dân Làm Báo
...........................
Thứ Tư, 1 tháng 5, 2013
Số phận 10 nhân vật quyền lực nhất Sài Gòn sau 1975
Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) là
Tổng thống chế độ Sài Gòn từ 1967-1975. Đêm 25/4/1975, ông rời VN đi Đài
Loan dưới danh nghĩa phúng điếu Tưởng Giới Thạch, rồi bay thẳng sang
Anh định cư. Đầu thập kỷ 1990, ông Thiệu chuyển sang sống tại
Foxborough, Massachusetts, Mỹ và sống một cuộc sống thầm lặng trong
quãng đời còn lại ở đây. Ông qua đời ngày 29/9/2001, sau khi đột quỵ tại
nhà riêng ở Foxborough, thọ 78 tuổi.
.
Dương Văn Minh (1916-2001) là
Tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Sau năm 1975, ông sống tại TP
Hồ Chí Minh, cho đến năm 1983 thì sang Pháp định cư. Nhưng ngay sau đó,
ông lại chuyển sang California (Mỹ), sống với gia đình con gái. Ông qua
đời ngày 6/8/2001, thọ 86 tuổi. Thời gian cuối đời, Ông Dương Văn Minh
đã bày tỏ mong muốn được trở về quê hương và sống như một người dân Việt
Nam bình thường.
Trần Văn Hương (1902-1982) là cựu
Thủ tướng (1964–1965; 1968–1969), phó tổng thống(1971-1975), rồi Tổng
thống trong thời gian 7 ngày (21-28/4/1975) của chế độ Sài Gòn. Sau
1975, ông chọn ở lại quê hương, tiếp tục sống ở căn nhà của mình ở Sài
Gòn. Những năm tháng cuối đời, ông sống chung với em gái, em rể, và
người con trai lớn là Lưu Vĩnh Châu – từng là một đại úy Quân đội Nhân
dân Việt Nam, đã tham gia trận Điện Biên Phủ. Ông mất ngày 27/1/1982,
hưởng thọ 80 tuổi.
Nguyễn Cao Kỳ (1930-2011) là một sĩ quan cao cấp và là cựu Thủ tướng và Phó Tổng thống của chế độ Sài Gòn. Năm 2004, ông đã về thăm quê hương trong tinh thần hòa giải dân tộc. Ông mất ngày 23/6 tại một bệnh viện ở Malaysia, thọ 81 tuổi.
Nguyễn Xuân Oánh
(1921–2003), là cựu Phó Thủ tướng kiêm Thống đốc Ngân hàng, 2 lần là
quyền Thủ tướng trong chính phủ Sài Gòn. Sau 1975, ông tiếp tục được
chính quyền mới trọng dụng. Trong tiến trình Đổi mới cuối thập niên
1980, ông đã có đóng góp lớn vào việc cải cách các lĩnh vực ngân hàng,
tài chính, đầu tư nước ngoài… tại VN. Ông từng là cố vấn kinh tế cho
Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và cũng là Đại biểu
Quốc hội, Ủy viên UBTW Mặt trận Tổ quốc VN. Ông mất ngày 29/8/2003 tại
TP HCM.
Nguyễn Hữu Có (1925-2012) là cựu
Phó thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng và tổng tham mưu trưởng quân
lực chính quyền Sài Gòn. Sau năm 1975, ông ở lại VN và phải đi cải tạo
đến năm 1987. Tuy vậy, đến cuối năm 2004, ông được bầu làm Ủy viên UBTW
Mặt trận Tổ quốc VN và được chính phủ VN xem như một biểu tượng của sự
hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù của 30 năm chiến tranh. Ông mất tại TP
HCM ngày 3/7/2012, hưởng thọ 87 tuổi. Trong ảnh là vợ chồng ông Nguyễn
Hữu Có, chụp vào tháng 2.2012.
Trần Văn Đôn (1917-) là tướng
lĩnh cao cấp của Quân lực Sài Gòn và là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc
phòng trong nội các cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Vào ngày
29/4/1975, ông là một trong những người di tản trên chuyến trực thăng
nổi tiếng của Mỹ xuất phát từ tầng thượng tòa nhà 22 phố Gia Long (nay
là phố Lý Tự Trọng) ở Sài Gòn. Sau đó, ông sang Pháp định cư và sinh
sống ở đó cho tới nay.
Cao Văn Viên (1921-2008)
là 1 trong 5 người được phong hàm đại tướng quân lực chế độ Sài Gòn.
Ông là vị tướng giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng trong thời gian lâu
nhất (1965-1975) và cũng là người cuối cùng giữ cương vị này của chế độ
Sài Gòn. Năm 1975, trước các thất bại quân sự, ông từ nhiệm ngày 27/4 và
lên máy bay di tản sang Mỹ. Sau 1975, ông sống lặng lẽ tại Arlington,
Virginia. Ông mất ngày 22/1/2008 tại viện dưỡng lão, thọ 87 tuổi.
Vương Văn Bắc (1927-2011) là một
luật sư và Tổng trưởng Ngoại giao vào những năm cuối cùng của chế độ Sài
Gòn. Sau ngày 30/4/1975, ông sang Pháp định cư. Nhờ học vấn uyên thâm,
ông được ngành luật của nước Pháp trọng dụng và làm việc cho đến năm 80
tuổi mới nghỉ ngơi. Ông mất ở Paris ngày 20/6/2011.
Copy từ: Người Đưa Tin
Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2013
Đi tìm mộ ông Nguyễn Hiến Lê
Trần Thị Trung Thu
- Mộ Nguyễn Hiến Lê hả? Chị không biết. Chị chưa nghe cái tên này bao giờ.
Chị
Dương vừa nói vừa lắc cái đầu nhỏ nhắn làm đuôi tóc vẫy vùng sau lưng.
Giọng nói nhẹ nhàng của cô gái miền Tây không chút giấu giếm và đùa
giỡn. Nhìn sâu vào mắt chị, tôi biết chị nói thật.
Có
lẽ nào, tôi tự nhủ trong lòng. Ông Nguyễn Hiến Lê mà chị ấy không biết
sao. Tôi cứ nghĩ một vị học giả lẫy lừng như ông chí ít ai từng cắp sách
đến trường đều biết. Huống hồ, chị là một nhân viên kế toán kiêm luôn
chân giữ thư viện huyện mà lại lạ lẫm với cái tên quen thuộc ấy sao. Kỳ
lạ! Ngửa mặt nhìn tấm bảng hình chữ nhật treo vững vàng trên bậu cửa,
tôi nhẩm lại dòng chữ “Phòng Văn hóa Thông tin huyện Lai Vung - tỉnh
Đồng Tháp”. Không lẽ nào.
Khi
đọc xong cuốn “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười”, tôi nổi hứng muốn đi tìm
mộ tác giả để thắp một nén nhang biết ơn. Nhớ có lần đọc trong một cuốn
sách nói rằng mộ ông nằm ở Lai Vung, tôi phóng xe Honda đến đó. Tôi
nghĩ, với một người có nhiều đóng góp cho nền văn hóa như ông, chắc sẽ
có một khu mộ đàng hoàng mà chỉ cần hỏi nhỏ người dân ở đó là biết.Cho
nên, ngay cả khi chị Dương nói một câu rất chân thật nhưng phũ phàng,
tôi cũng không suy suyển lòng tin. Tôi tự an ủi, chắc chị nghe không rõ
tiếng tôi, cũng có thể là chị chưa kịp nhớ ra. Tôi cẩn thận ghi tên ông
ngay ngắn vào một tờ giấy rồi đưa chị đọc. Chị đọc đi đọc lại một cách
chậm rãi như thể đầu óc đang làm việc hết công suất để sàng lọc từng
milimet trí nhớ hòng tìm ra cái tên Nguyễn Hiến Lê. Cuối cùng, chị trả
lại tôi mảnh giấy với nụ cười e lệ.
- Chị không biết thật rồi. Chắc anh Tú, trưởng phòng Văn hóa Thông tin biết. Để chị dẫn em vô gặp anh ấy nhé.
Tôi
lẽo đẽo theo chị trong lòng khấp khởi mừng. Nếu quả thật người tôi đang
đi tìm có ở Lai Vung và nổi tiếng như thế thì trưởng phòng Văn hóa
Thông tin huyện biết là cái chắc. Anh Tú có phòng làm việc riêng, trên
bàn chiếc máy tính nối mạng đang phát một bài nhạc cách mạng hào hùng.
Sau khi nghe nguyện vọng của tôi, anh nhún vai nói giọng rề rà nhưng
chắc nịch.
- Anh chưa nghe tên ông ấy bao giờ. Chắc em lầm với ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc rồi.
Tôi
nhủ thầm, người miền Tây thích đùa và biết cách đùa khéo quá. Chắc anh
ấy thử mình thôi chứ với chức vụ anh ấy mà không biết ông Nguyễn Hiến Lê
thì còn ra thể thống gì nữa. Tôi cố nở một nụ cười hỏi lại anh bằng
giọng nhẹ tênh:
- Anh không biết ông ấy thật à?
-
Thật mà. Ông ấy là ai vậy em? Anh hỏi lại tôi hết sức bình tĩnh như
đang chờ được cung cấp thông tin về một con người xa lạ. Nhìn chiếc máy
tính, tôi đề nghị:
- Anh cho em mượn máy tính chút nhé? Anh đồng ý.
Tôi
gõ tên ông vào Google, cả một núi thông tin về ông xổ ra nhưng không có
một chi tiết nào đả động đến chuyện mộ ông hiện ở đâu. Anh trưởng phòng
đứng cạnh tôi nheo mắt chăm chú đọc. Cuối cùng anh à lên một tiếng:
- Ông này cũng nổi tiếng dữ hen.
Thấy
anh có vẻ say sưa, tôi bỏ ra ngoài hiên ngồi mong nguôi ngoai cơn thất
vọng đang dâng lên trong lòng. Có vẻ như ông trời cũng biết tôi buồn,
nên đang nắng ngon lành, tự dưng đổ mưa xối xả. Cơn mưa giữa trưa đuổi
bắt nhau trên những tấm tôn lúp xúp, xám màu. Mưa níu chân tôi lại nơi
góc hiên thư viện. Ngồi xuống chiếc ghế đá lạnh lẽo, tôi tự hỏi mình còn
cách nào không, còn mối quan hệ nào tôi chưa chạm tới để tìm ra mộ ông
không. Tôi có cảm tưởng mình đang phiêu lưu trong khu rừng rậm rạp để
tìm kiếm một linh hồn bí ẩn trên sách vở. Giây phút linh hồn mỏng manh
kia vút lên trời cao khiến tôi thấy lòng hồi hộp một cách lạ kỳ. Tôi chỉ
mới hỏi han hai người, quá ít để đi tới một kết luận. Hẳn phải còn một
khe hở nào đó mà tôi chưa tìm ra.
Chợt
nhớ bà cô dạy văn hồi cấp 3. Quê của cô ở Lai Vung thế nào cô cũng có
chút thông tin về mộ ông Nguyễn Hiến Lê nếu nó thật sự ngự trị tại đây.
Cô là người học cao hiểu rộng chắc sẽ giải đáp được thắc mắc cho tôi.
Không chần chừ đến một giây, tôi hăng hái bấm số điện thoại của cô.
Tiếng bên kia đầu dây đánh thức những dây thần kinh trong người tôi đến
mức phấn khích như người chết đuối vớ được chiếc phao. Nhưng đôi khi,
phao không đưa ta đến bờ được. Cô biết ông nhưng không biết mộ ông nằm ở
đâu. Cô hứa sẽ gọi điện hỏi thăm bà con ở Lai Vung xem thử có ai biết
không, và dặn tôi chờ.
Còn
ai có thể trả lời câu hỏi của tôi đây? Nhà giáo không biết liệu nhà văn
có hơn không? Nghĩ thế tôi không ngần ngại bấm số của một anh nhà văn.
Tôi tin rằng giới văn nghệ sĩ rất rành mấy chuyện bên lề này. Anh bạn
tôi là người hay giang hồ vặt, lại thêm dân miền Tây, chắc sẽ có những
thông tin hay ho. Nhưng câu hỏi của tôi thuộc loại khó nuốt, anh biết
rất rõ ông Nguyễn Hiến Lê nhưng cái vụ mồ mả thì anh bí. Anh nói sẽ gọi
những bạn văn của anh để hỏi xem có ai biết không. Lại một lời hứa.
Đã
hỏi hai “nhà” rồi, tôi hăng hái hỏi nốt nhà báo cho đủ bộ tam. Nhà báo
đi còn ác liệt hơn nhà văn và giao thiệp rộng, sao lại không hỏi thử
nhỉ? Đã mất công đi xuống tận đây thì lẽ nào lại đi về tay không? Tôi
tìm số anh nhà báo quê miền Tây.Sau hồi chuông thứ nhất, anh bắt máy
liền. Vừa nghe câu hỏi của tôi xong, anh đáp lại bằng một tràng cười sặc
sụa. Có vẻ như chuyện tôi đang làm buồn cười lắm. Khi không lại đi tìm
mộ một người không phải họ hàng thân thích, chưa một lần gặp mặt, chỉ
biết qua những trang sách. Thật điên rồ! Cuối cùng, anh cũng nín được
cười để trả lời tôi một cách rõ ràng và mạch lạc rằng không biết.
Ngoài
kia mưa vẫn rơi, gió vẫn thổi, và tôi ngồi đây, lục tìm trong danh bạ
số điện thoại của một người quen ở Đồng Tháp, bất chợt bàn phím ngừng ở
số tổng đài 19001080.
Tại sao lại không gọi nhỉ? Tổng đài là nơi giải đáp mọi thắc mắc từ
quan trọng đến tầm phào mà. Hơn nữa, nơi ấy đâu chỉ có một cái đầu. Tôi
bấm số tổng đài. Tiếng tút tút dài đằng đẵng kết thúc bằng giọng nhẹ
nhàng của cô nhân viên. Nhưng nghe yêu cầu của tôi xong, giọng cô có vẻ
khác. Tôi nghĩ rằng cô đã phải nhịn cười. Cô nói tôi chờ máy để cô tra
cứu thông tin. Một phút. Ba phút. Năm phút trôi qua. Đến phút thứ sáu,
cô nói rằng tổng đài của cô chưa cập nhật thông tin này và mong khách
hàng thông cảm.Tôi có thể thông cảm và hiểu cho yêu cầu kỳ quặc này,
nhưng sẽ thật là có lỗi với người đã khuất khi ông mất đến nay là tròn
25 năm. 25 năm mà chưa cập nhật thì bao giờ mới cập nhật đây?
Chị Dương thấy tôi cầu cứu hết mọi nơi mà không kết quả gì cũng ái ngại giùm tôi.
- Em tính đi đâu bây giờ?
- Em cũng không biết nữa. Tôi nghĩ đến đoạn đường về.
- Em có muốn về nhà chị ăn cơm không?
Có
người nhắc, tự dưng cái bụng tôi đâm ra dở chứng. Tôi biết người miền
Tây rất hiếu khách nhưng không ngờ hôm nay lại được mục kích sự hào sảng
ấy. Cớ gì lại từ chối lòng tốt của một người như chị nhỉ?
- Em không làm phiền chị chứ?
- Phiền gì đâu. Về cho biết nhà. Sau này có xuống Lai Vung thì ghé nhà chị chơi.
Trời
đã tạnh. Cơn mưa ban trưa như gột rửa cái nóng mùa hè, để lại những
vũng nước loang loáng trên đường. Chị chạy xe đi trước, tôi rà rà theo
sau. Mái tóc chị bay bay trong gió làm tôi nhẹ lòng. Nếu chuyến đi này
không tìm được mộ ông Lê thì ít nhất, tôi cũng có thêm được một người
chị dễ thương. Tóm lại là không lỗ.
Từ
phòng Văn hóa Thông tin đi chừng 2 km nữa là tới nhà chị. Ngôi nhà lá
nằm im ắng bên đường quốc lộ. Cả nhà đang xem ti vi nên không ai chú ý
đến tôi. Mọi người chỉ lao xao về tôi khi nghe tôi hỏi mộ ông Nguyễn
Hiến Lê. Ba má chị là người sống gần hết một đời ở đây cũng không biết
mộ ông ở đâu. Thấy vậy, tôi không hỏi thêm ai nữa. Tôi còn nhớ lời tựa
của ông Nguyễn Hiến Lê mở đầu cho cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục có đoạn như
sau: “Mà có bao giờ người ta nghĩ đến việc thu thập tài liệu trong dân
gian không? Chẳng hạn khi một danh nhân trong nước qua đời, phái một
người tìm thân nhân hoặc bạn bè của người đã mất, để gom góp hoặc ghi
chép những bút tích cùng dật sự về vị ấy, rồi đem về giữ trong các thư
khố làm tài liệu cho đời sau. Công việc có khó khăn tốn kém gì đâu, mà
lại có lợi cho văn hóa biết bao. Có như vậy các người cầm bút mới có tài
liệu để soạn sách, còn như bây giờ thì một nhà văn Việt viết tiểu sử
Tản Đà còn khó hơn viết tiểu sử của Molier, của Shakespeare, của
Tolstoi. Thực là ngược đời nhưng rất dễ hiểu. Vì tra cứu ở đâu bây giờ
để viết về đời sống của Tản Đà?” Thật không ngờ, điều ông luôn canh cánh
trong lòng đến khi mất lại vận vào chính đời ông.
Tôi
đi tìm nơi an nghỉ của ông chỉ vì lòng kính trọng. Theo tôi, ông là một
trí thức thứ thiệt lúc nào cũng trăn trở vun vén cho văn hóa nước nhà.
Ông đã góp vào nền văn hóa Việt Nam một số lượng tác phẩm đồ sộ gấp bốn
lần thời gian ông làm việc. Nhưng quan trọng hơn, đó là nhân cách sống
của ông: giản dị và tự trọng. Một con người như thế rất đáng để tôi đi
tìm và thắp một nén nhang chứ. Có điều, tôi vô duyên, không tìm được mộ
ông dù biết là ông chỉ nằm đâu đó quanh đây. Tôi biết ông qua một người
thầy đáng kính. Đúng rồi, người thầy của tôi. Sao tôi không nghĩ ra nhỉ?
Tôi cuống quýt gọi điện, thầy cười nói đi mà không rủ, ra nông nỗi này
ráng chịu. Thì thầy cũng chưa tới mà, xem như chuyến này em đi dò đường
trước, lần sau dẫn thầy đi mới ngon lành chứ. Thầy cười ha hả bảo được,
rồi nhắn cho tôi địa chỉ mộ ông. Tôi hí hửng chạy lại khoe với chị Dương
cái tin: “Mo Nguyen Hien Le o chua Phuoc An – gan nga tu Cai Buong,
Vinh Thanh, Lai Vung”. Cả nhà chị xúm xít quanh tôi khi nghe nói tôi đã
tìm ra nơi an nghỉ của ông. Tôi sung sướng đọc to rồi hồ hởi hỏi đường
đi đến đó, nhưng lạ thay, tôi đọc xong mà chẳng ai hiểu đó là đâu. Cuối
cùng, ba chị Dương đoán một hồi mới rõ đó là ngã tư Cai Bường, thuộc xã
Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò chứ không phải Lai Vung. Té ra, cả cuốn sách
tôi đọc lẫn tin nhắn của thầy đều sai tên huyện. Ba chị Dương dặn:
-
Từ Lai Vung con đi thêm khoảng 10km nữa dọc theo quốc lộ 80 là sẽ tới
ngã tư Cai Bường. Tới đó con hỏi chùa Phước Ân ai cũng biết hết.
Từ
biệt ngôi nhà thân thiện, tôi tiếp tục cuộc khám phá. Mưa bắt đầu nặng
hạt quất vào mặt, vào mũi, vào áo mưa ràn rạt nhưng tôi không cảm thấy
rét buốt. Có điều gì đó cựa quậy trong lòng, vừa đê mê vừa khấp khởi.
Tôi thấy con đường trắng xóa trong màn mưa như những bông tuyết bay lững
lờ trong không trung. Giọt mưa nào ngọt ngào rớt lên môi mắt tôi. Giọt
mưa nào tắm mát tâm hồn tôi. Đường mưa vắng tanh không một bóng người.
Tịnh như chốn này chỉ có mình tôi và linh hồn ai đó đang luẩn khuất
trong mưa, hí hửng và reo vui.
Vĩnh
Thạnh nghèo nàn và ướt át chào đón tôi. Từ ngã tư Cai Bường rẽ tay trái
vào hơn 1km đường đất nữa là tới chùa Phước Ân. Con đường len lỏi qua
những vườn cây ăn trái xanh mướt và một cây cầu gỗ bắc ngang con kênh.
Nhà dân nằm im lìm dưới tán lá như trái chín giấu mình sau vòm lá. Không
khí thuần khiết hòa vào hương xoài dịu êm khiến tôi ngẩn ngơ. Người
thiên cổ về chốn điền viên này nằm, sáng nghe tiếng chuông chùa, chiều
nghe tiếng sóng vỗ, làm tôi cũng phát ham.
Chùa
Phước Ân hiện ra trước mắt tôi vừa trang nghiêm lẫn thân thiện. Ngôi
chùa đơn sơ ẩn hiện sau lớp lá bồ đề lóng lánh nước mưa. Tôi dắt xe chầm
chậm qua sân chùa. Không một bóng người. Không gian im ắng. Đang khi
tôi không biết hỏi ai thì có một bà cụ đi ra. Bà mặc áo nâu sòng, mái
tóc đã hoa râm. Tay bà cầm cỗ tràng hạt đang lẩm bẩm tụng kinh. Nghe tôi
hỏi mộ ông, bà nói:
- Ông Lê viết sách chứ gì?
- Vâng ạ.
Nhìn
tay chân tôi tím tái, bà lặng lẽ mời vào phòng khách. Trong gian phòng
ấm cúng bên ly trà nóng, bà cụ hỏi tôi có bà con thân thích gì với ông
ấy không? Sao lại đi thăm mộ lúc trời mưa gió như thế này? Làm thế nào
mà biết ông nằm ở đây? Tôi ngồi hầu chuyện bà cụ một hồi đủ để giải
thích cho bà hiểu tôi chẳng là gì của ông cả và đi tìm mộ ông chỉ để
thắp một nén nhang vì lòng mộ mến thôi.
Nghe
xong bà cười, rồi bà kể tôi nghe chuyện cách đây khoảng một tháng, cũng
có cậu sinh viên đến viếng mộ ông ấy. Cậu ta còn mua trái cây, đèn
nhang cho ông ấy nữa. Bà chưa đọc sách ông nên hỏi ông ấy viết sách hay
lắm sao mà mất lâu thế vẫn còn có người nhớ đến.
Tôi
trả lời ông ấy không những viết hay mà còn rất hữu ích nữa. Nghe thế,
bà dẫn tôi vào chánh điện, nơi khung ảnh ông Nguyễn Hiến Lê được treo
bên cạnh người vợ thứ hai của ông, bà Nguyễn Thị Liệp. Sau khi ông mất,
bà Liệp xuất giá đi tu và trước khi bà mất, bà nói con cháu hãy đem ông
bà về đây an nghỉ.Phía sau lớp kính mờ ảo, nụ cười ông vẫn tươi rói và
đôi mắt dường như vẫn dõi theo trần đời.
- Đi theo bà, bà dẫn cháu ra mộ ông ấy.
Bên
trái chùa có một khoảng đất rộng dành cho những người đã qua đời an
nghỉ. Ngôi mộ ông Nguyễn Hiến Lê nằm lọt thỏm trong số khoảng 20 ngôi mộ
khác. Không có gì đặc biệt cho thấy đó là ngôi mộ của một con người lỗi
lạc. Nó nhỏ nhắn và giản dị như chính cuộc đời ông. Cạnh mộ, hoa đổ
nhang tàn.
Tôi cắm vào lư hương nén nhang thành kính. Hương trầm tỏa bay. Cay cay khóe mắt.
TTTT
Copy từ: TS Nguyễn Xuân Diện
Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013
Trong các cuộc mật đàm, Lê Đức Thọ gợi ý Hoa Kỳ giết Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
New York 15/1/1978 (UPI)
- Nhà thương lượng hàng đầu của Bắc Việt đã gợi ý Hoa Kỳ ám sát Tổng
thống miền Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu như là điều kiện cho hòa bình.
Tạp chí Newsweek số ra ngày hôm nay trích dẫn lời của vị tướng Mỹ đã về
hưu nói trong cuốn sách sắp ra mắt.
Tạp chí này nói Trung tướng Vernon Walters (1), người tham dự các cuộc
hòa đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ vào đầu thập niên những năm 1970,
bàn đến vụ này trong hồi ký sắp ra mắt, "Những sứ mạng thầm lặng" (Silent Missions).
Theo Newsweek, Walters trích lời của Lê Đức Thọ nói về Tổng thống Thiệu:
"Các ông biết nên làm cái gì... phải trừ khử hắn."
Kissinger hỏi lại: "Ý ông muốn nói chúng tôi phải giết ông ta?"
Và Lê Đức Thọ đáp: "Đúng, nhưng các ông không viết ra trong hiệp ước".
Nguồn: The Washington Post ngày 16/1/1978
*
Chú thích của người dịch:
(1) Tướng Vernon Walters tùy viên quân sự cấp cao ở tòa đại sứ Mỹ tại
Paris. Ông là người liên lạc và sắp xếp các cuộc mật đàm "đi dêm" giữa
Kissinger và Lê Đức Thọ.
Sau khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, cho đến ngày hôm nay ông vẫn còn giữ
lá cờ VNCH trong phòng làm việc của mình. Khi được hỏi tại sao ông vẫn
giữ lá cờ ấy, ông giải thích lá cờ này tượng trưng cho "công việc còn
dang dở. Chúng ta đã để 39 triệu người rơi vào cảnh nô lệ."
(Theo Larry Berman trong tác phẩm "No peace, No Honor", nhà xuất bản Free Press, trang 273.)
Copy từ: Dân Làm Báo
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




