CHƯA TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐỜI.

Hiển thị các bài đăng có nhãn BAUXITE. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BAUXITE. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2014

Có gì “đồng thanh tương ứng” giữa người tù đang cận kề bên cái chết và trang Bauxite Việt Nam?


Có gì “đồng thanh tương ứng” giữa người tù đang cận kề bên cái chết và trang Bauxite Việt Nam?


Nguyễn Huệ Chi
Đọc bài viết “Ba ngàn chữ ký” của Facebooker Lưu Gia Lạc ngày 27-3-2014 khiến tôi sững sờ. Mỗi dòng chữ xúc động của tác giả phơi trải một sự thật phũ phàng làm cho trái tim bất kỳ ai cũng phải đau thắt. Huống nữa là tôi, một trong ba sáng lập viên và là người chủ trì trang Bauxite Việt Nam trong gần suốt 5 năm. Hôm nay, vào lại đường link bài viết đó thì người viết đã rút bài xuống. Ngạc nhiên, không hiểu vì lý do gì, tôi đành đi tìm những thông tin xung quanh thầy giáo Đinh Đăng Định, người ký tên vào bản Kiến nghị Bauxite đợt 4 với số thứ tự 679, lật giở lại một số bài viết cáo buộc ông trên các loại báo chính thống, mới hay tội danh đích thực bao trùm nhất người ta quy cho ông chung quy vẫn là việc ông phản đối Dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Còn những tội khác như “móc nối với các phần tử, tổ chức phản động trong và ngoài nước để xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước” (Người lao động 21/2/2012), “đòi đa nguyên đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng CA, quân đội và đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam” (Công an Đà Nẵng, 21/2/2012), v.v. thì cứ đọc vào bản cáo trạng dành cho bất kỳ người dân Việt nào có ý thức ít nhiều về quyền tự do dân chủ của công dân, từng bị cơ quan chức năng khởi tố và kết án tù, cũng đều thấy câu chữ na ná tuồng như cóp lại của nhau kể cả về câu chữ, cho đến cái chấm phẩy, hay cách dùng những trạng ngữ “chặt chém”. Thế thì, dẫu có rút xuống khỏi trang facebook, trước sau cái giá trị thông báo trong bài viết của người ký tên Lưu Gia Lạc vẫn cứ còn nguyên. Giá trị thông báo ấy không phải là ở sự định lượng – một con số ba ngàn chữ ký đã chính xác hay chưa, thậm chí không có nghìn nào cả cũng vẫn không sao hết – bởi tinh thần cốt lõi mà tác giả tóm bắt được trên gương mặt Đinh Đăng Định là cái thái độ quyết liệt không đồng tình với một kế hoạch đào bới quặng mỏ tại một vùng đất mà kéo theo nó là hàng chục thứ hệ lụy tày đình, do chính người Tàu bày đặt ra và mớm ép, bắt Việt Nam thi hành.
Thì ra, vào tháng Tư năm 2009, khi ba anh em chúng tôi, Phạm Toàn, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Thế Hùng đang căng đầu phấp phỏng tính toán với nhau về một hình thức đấu tranh sao cho hiệu quả – để không đến nỗi không được ai nghe, trở thành vô duyên, cũng không đến nỗi rước lấy tai họa “sứt đầu bươu trán” – nhằm phản bác lại Dự án Bauxite Tây Nguyên mà viên Tổng bí thư của đảng cộng sản thuở ấy mang từ nước Tàu về như một quả bom hẹn giờ thẩy vào “sân” Nhà nước – mà Nhà nước thì cố nhiên ngồi trên đầu hơn 85 triệu dân chúng Việt Nam – và được cả một bộ máy đảng răm rắp tuân theo, lại được ông Chủ tịch Quốc hội bấy giờ đặc biệt “ưu ái” cho lách luật bằng cách băm chặt thành nhiều khúc để ngân sách từng hạng mục nằm dưới mức phải đưa ra thông qua ở Quốc hội, trong khi đó thì ông Phó thủ tướng (mà nay đã “đổi ngôi” giữ chức Chủ tịch Quốc hội) đứng giữa diễn đàn Quốc hội bặm miệng giơ tay chém chém vào không khí mà nói: “Bô xít không thể không làm!”, đến nỗi những lá thư phản đối kiên trì của Võ Đại tướng cũng như nhiều bản thỉnh nguyện của các bậc trí thức công thần liên tiếp gửi lên các vị cầm chịch tối cao đều chẳng ăn nhằm gì; đúng giữa cái lúc tình hình oi ngột như thế thì rải rác khắp nơi trên đất nước từ Nam chí Bắc, ít nhất cũng có hàng chục, chưa nói có thể hàng trăm, tấm lòng thao thức vì sự mất còn của dân tộc trước đại họa tiềm tàng này, cũng đang ngày đêm trăn trở, giằng xé không nguôi, trong đó có thầy giáo Đinh Đăng Định.
Và rồi các kiến nghị dừng Dự án bauxite Tây Nguyên 1, 2, 3, 4, 5... đã lần lượt tung ra, như những tiếng chuông mạnh gióng lên trong dư luận, khởi sự từ đầu tháng Năm, liên tục kéo dài cho đến cuối năm 2009 (và cả năm 2010), cùng lúc với sự xuất hiện trang blog, kế đấy là trang mạng Bauxite Việt Nam, được người Việt khắp trong và ngoài nước nhiệt liệt hưởng ứng, tạo nên một không khí phấn động lạ thường. Việc ký tên vào Kiến nghị, từ chỗ là một việc còn lạ lẫm ngỡ ngàng, xét về mặt tâm lý tiếp nhận, kể cả một chút sợ hãi vô hình phảng phất đâu đó như một ám ảnh, đã nhanh chóng chuyển thành thói quen, một việc làm đàng hoàng chính đáng, làm người ta trở nên bạo dạn. Người ký tên mỗi đợt có lúc lên đến con số nghìn. Các trang mạng bè bạn vì thế cũng bạo hẳn lên với những lời lẽ châm biếm sát sườn, chua cay, chỉ trích thẳng thắn bất kỳ hành vi nào của những kẻ cứ khăng khăng bám víu vào hàng loạt con số tính toán trên giấy để bênh che cho cái Dự án mà ai có lương tri cũng biết là việc đùa với lửa vô cùng dại dột. Thậm chí khi một nhân vật như Lê Dương Quang đại điện cho TKV ra giữa Quốc hội lớn tiếng nhục mạ những người trí thức ký tên vào Kiến nghị, rằng họ đã “ăn phải bả của thế lực thù địch” thì ông ta chỉ chuốc lấy những tai tiếng tày đình vì chính hành vi “ăn có nói không” của mình. Có thể nói một phong trào dân sự bắt đầu dấy lên từ đây, trên một đất nước suốt hàng bao nhiêu năm vốn chỉ biết cúi đầu vâng lệnh “đảng quang vinh”.
Về phía những người xướng xuất Kiến nghị, phải nói cũng đã trải qua nhiều chặng biến thái tâm trạng khác nhau. Nỗi lo lắng buổi đầu tiên đón đợi phản hồi của dư luận là một hồi hộp khôn tả. Tôi còn nhớ đã phải canh giờ chờ đợi VTDH từ Paris gọi điện về báo tin chị đã liên lạc được với GS Trần Văn Khê để cho tôi nói chuyện trực tiếp với ông, trong bụng đang không thật tự tin bỗng thở phào sung sướng khi đầu dây bên kia vị GS già cất tiếng nhận lời ký tên. Và khi con số người ký mỗi ngày một tăng, mỗi đợt lại có thêm hàng trăm người mới xin ghi danh, và hàng ngày cả ba sáng lập viên đều nhận rất nhiều thư điện tử phản hồi cổ vũ, thì chúng tôi bỗng trở nên vững bụng hơn, có khi chuyển từ trạng thái căng thẳng ban đầu sang cái thái cực gọi là lạc quan tếu nữa, vì nghĩ rằng thế nào thì ông đảng và ông nhà nước cũng sẽ phải thột tỉnh trước “cánh chim báo bão”, sẽ lắng nghe và chấp nhận tiếng nói của “lòng dân”. Trong vòng 4 tháng tính từ đầu tháng Năm 2009, Kiến nghị bauxite đúng là “diều gặp gió” cứ thế mà bay lên.
Chúng tôi lạc quan đến mức vào cuối thu 2009, cả một dải miền Trung đất nước gặp “bão dồn lũ dập”, anh em đã hăng hái bàn nhau cho phát ngay lên mạng lời kêu gọi quyên góp tiền bạc nhằm tổ chức cứu trợ lụt bão. Và sau khi nhận được một khoản kinh phí khá lớn trong một thời gian tương đối ngắn, trong đó người đóng góp lớn nhất và tích cực nhất là TS. Phùng Liên Đoàn – ông đóng dôi ra cho chúng tôi đủ tiền đi lại – chúng tôi liền lập hai đoàn cứu trợ xuất hành cách nhau chưa đầy một tháng, với sự giúp đỡ tận tình của anh em trí thức Đà Nẵng, lần thứ nhất vào đến Phú Yên, ra cả đảo Lý Sơn và lần thứ hai lên đến tận Tumơrông Tây Nguyên.
Ở bất kỳ nơi nào chúng tôi tìm đến, người dân cũng bộc lộ những tình cảm đôn hậu, chân thành. Tôi không thể nào quên được cái ngày chạy xe một mạch từ Đà Nẵng vào Phú Yên, phát được cho 12 gia đình thì trời tối phải quay ra. Nhưng khi xe vừa ngang qua cổng Ủy ban xã thì một người chạy bổ từ trong sân ra chắn ngay trước xe. Mở cửa bước xuống là một bộ mặt đen thủi, gầy tọp, râu ria tua tủa, đứng đối diện với tôi. “Em là Chủ tịch xã đây. Chỉ có một yêu cầu. Mai các anh chị thế nào cũng quay lại. Vì chỉ mới được có bằng nấy gia đình. Bao nhiêu người sập hết nhà và chết người nữa, chưa có gì ngoài mấy ký mì và chai nước mắm của một đoàn đến trước. Không quay lại thì dân họ xé thịt em ra”. Nghe lời nói thẳng tuột của anh, chúng tôi không thể không thay đổi chương trình, nhận lời thêm vào lịch trợ cứu cho Phú Yên một ngày nữa. Nhưng trước khi ra nhà trọ còn được nghe thêm anh Chủ tịch xã phơi bày gan ruột – nghe mà không hết ngạc nhiên, cảm động: “Em trông già sụm thế này nhưng mới xấp xỉ 30 thôi đấy. Thức trắng từ hôm nước tràn về đến nay. Mới tốt nghiệp Đại học Kinh tế tại Sài Gòn được mấy năm. Đại học chính quy hẳn hoi”. Hôm sau y hẹn, chúng tôi quay lại phát khắp lượt bà con trong xã của anh, trong đó có một gia đình phải đến tận nơi theo lời yêu cầu của anh Chủ tịch – để hiểu được người ta đang phải chịu đựng mất mát như thế nào. Gia đình này có hai vợ chồng trẻ mà chồng còn mếu máo được vài câu, còn vợ thì cứ ngồi ngây ra không nói không rằng, nhìn chúng tôi trừng trừng. Hỏi ra mới biết vì đập thủy điện xả van nên nước ập về nhanh quá, gia đình có hai con một trai một gái vội đẩy con lên bàn còn vợ chồng đứng dưới đất, nào ngờ dòng nước quái ác xoáy đúng vào cái bàn, và sau khi nước rút nơi đấy chỉ còn là một lỗ trũng sâu hoắm. Cách nhau gang tấc mà bố mẹ sống trong khi con mất dạng. Tôi cũng không thể nào quên được cặp mắt một bé gái ở Lý Sơn, cặp mắt mở to đứng ở cửa nhìn hút theo chúng tôi, khi cả đoàn từ trong nhà em đi ra: đấy là một mẹ và 5 con còn bé choắt, đầu đứa nào cũng chít vành khăn trắng, mẹ chỉ biết khóc vùi, vì bố vừa rơi từ mái nhà xuống chết đúng trong cơn bão. Tôi càng găm vào trí mình ấn tượng một ngày nhịn đói nhịn khát ròng rã lội suối trèo đèo, vượt qua vô số đoạn đường sạt lở thành sông, để mang niềm vui, dẫu rằng chỉ gói trong mấy xe tải chở tôn và một số tiền không nhiều nhặn gì cho lắm, đến với bà con Xơ Đăng ở Tumơrông vốn đang bị sập hết những ngôi nhà sàn vì lũ cuốn. Tuy ngay trong đêm ấy, đứng ở giữa mảnh sân Ủy ban xã đón cơn gió lạnh cao nguyên thổi lộng óc, nhìn sang thân thể liêu xiêu vì đói của anh Phạm Toàn đứng kế bên, tôi đã linh cảm một điều gì đó chẳng lành, nước mắt bỗng ràn rụa chảy ra khiến Toàn và TN phải nắm chặt lấy tay, vỗ về: “Bình tâm đi!”. Nhưng cũng chỉ là một linh cảm thoáng qua rồi tắt nhanh, bởi trong lòng vẫn tràn trề hy vọng, tin vào chính đại quang minh của những việc mình làm.
Chúng tôi đã bé cái nhầm. Người ta đâu có cần mình nói lời nói thẳng. Những lời nói thẳng vì lợi ích đất nước nhưng lại xóc vào gan ruột những ai ai đấy. Chúng tôi quên mất rằng lợi ích dân tộc từ lâu rồi đã bị lợi ích nhóm giày đạp và xé cho tơi tả. Cho đến vài ngày cuối năm 2009, khi trang Bauxite Việt Nam bất ngờ bị đánh sập, và những lá thư nặc danh bôi nhọ giữa Phạm Toàn và tôi được ném lên mạng thì chúng tôi mới vỡ lẽ về sự thơ ngây nông nổi của mình. Và rồi một cuộc khám nhà, khám máy tính, và 22 ngày thẩm vấn liên tục tiếp theo đã mở mắt cho tôi. Mọi hy vọng mơ hồ cứ thế tắt lịm đi. Cho đến hôm nay, khi thực tế sờ sờ về tai họa nhãn tiền của dự án Bauxite Tây Nguyên – chỉ mới tính riêng về mặt kinh tế – đã hiển hiện và được báo chí phơi bày, cả Phạm Toàn và tôi cũng không còn lạc quan mấy nỗi. Sự đời là thế, dẫu biết chết mười mươi đi nữa, những kẻ “theo lao” đâu có chịu dừng lại. Những con bạc khát nước ấy sẽ đâm đầu vào Cái Chết cho đến khi trắng mắt. Nhưng đó là nói lẽ đời, chứ cụ thể ở đây thì chết là chết Dân, chết Nước chứ “đương sự” có chết đâu. Họ vẫn sống khỏe, còn khỏe hơn khi chưa “đâm đầu” là khác. Và trên con đường của những con thiêu thân thần kỳ nọ, người ta sẽ không nể nang gì mà không chà đạp, nếu chà đạp được, lên thân phận của cái thằng mình.
Bài học rõ ràng nhất chính là trường hợp thầy giáo Đinh Đăng Định. Đọc bài viết về Đinh Đăng Định của Lưu Gia Lạc mà không khỏi bàng hoàng biết ông là một nạn nhân tồi tệ của chuyện ký tên vào Kiến nghị Bauxite. Không, bài của Lưu Gia Lạc đã rút xuống nên chuyện ấy thì án từ của ông rồi đây sẽ soi tỏ cho chúng ta. Tôi muốn nói đến một phía khác của con người này kia: ông đúng là một người “đồng thanh tương ứng” với bản Kiến nghị của chúng tôi đến tận trong tâm khảm, và vì thấm sâu lời cảnh báo gớm ghê của nó nên không chỉ tham gia ký tên mà ông còn đã thầm lặng, một mình một xe, đi vào các xóm làng để lấy bằng được thật nhiều chữ ký đáp ứng lời kêu gọi dừng dự án khai thác bauxite ở Tân Rai và nhất là Đắc Nông. Cũng là dễ hiểu và chẳng có tội lỗi gì ở đây, bởi nếu không có những sự thầm lặng góp sức của những người như thế, chúng tôi làm sao thực hiện nổi 5 bản Kiến nghị đầy ắp chữ ký trên trang Bauxite Việt Nam được. Hoặc giả tuy không hề biết đến những Kiến nghị lan truyền rất rộng vào thời điểm ấy (giả định này là phi thực tế), song do “chí lớn gặp nhau”, là người tận mắt chứng kiến việc ồ ạt phá rừng để triển khai dự án Bauxite tại địa điểm Đắc Nông nơi mình cư ngụ, thầy giáo Đinh Đăng Định đã tự phát lên tiếng cự tuyệt và vì thế rước họa vào mình. Đằng nào thì cũng thế thôi.
Thử hỏi, những việc ông làm, dù tự phát hay từ Kiến nghị của chúng tôi, giá thử có lặn lội đi lấy chữ ký của ba nghìn người dân cho bản Kiến nghị đi nữa, liệu chưa đủ để giúp người cầm chịch nhận ra ở người thầy giáo họ Đinh không phải là một việc làm “sách động” mà là một mục tiêu chí cốt cao xa hơn nhiều: giác ngộ và quy tụ lòng căm phẫn của đồng bào vào một kẻ thù chung hết sức nguy hiểm là lũ bành trướng Đại Hán mà chính ông đã nhìn thấu tim đen, ẩn trong một Dự án chứa nhiều bất cập như dự án Bauxite triển khai ngay trên “mái nhà” trung tâm – tử huyệt của đất nước? Từ đó, thử hỏi, giữa một Đinh Đăng Định và những kẻ đã tra vấn, hành tội ông, đẩy ông đến những ngày cuối của căn bệnh ung thư, ai là người yêu nước, thật tâm muốn ngăn chặn những nguy cơ tày trời cho dân tộc, và ai là phường phản dân hại nước? Viết đến đây tôi lại cứ như nghe trong tai mình đang ong ong những lời xỉ vả đám trí thức của ông Lê Dương Quang năm nào giữa diễn đàn Quốc hội. Bỗng chốc, một thứ triết lý sống ngạo ngược của cuộc sống hôm nay cứ hiện rõ ra dần: Ai chết cứ chết, ai giành được một miếng cứ việc ngoạm, và ngoạm xong đâu đấy – như kiểu gã trung tá KGB gian giảo vừa ngoạm xong Crimé của Ukraine – thì tự nhiên tất cả mọi thứ, lợi lộc, chính danh, chính nghĩa cũng khắc tuôn hết vào tay. “Mười lăm thằng trên hòm người chết / Be rượu rom say tít cung thang Quinze hommes sur la poitrine du mort, yo-ho-ho et une bouteille de rhum!” (Châu đảoL’ île au trésor – của Stevenson).
N.H.C.

------------------------------------
Phụ lục: BA NGÀN CHỮ KÝ … (Bài do BVN lưu được)
Lưu Gia Lạc
clip_image002
Ngồi lặng lẽ bên người thầy giáo gầy guộc nhỏ bé không muốn rời mặc dù đêm trước chỉ ngủ được khoảng 3 tiếng đồng hồ, đôi mắt cay xè nhưng cơn buồn ngủ vẫn không thể đến. Tôi không dám hỏi han nhiều vì sợ anh mất sức nếu phải trả lời, hình như cứ mỗi lần tôi ngồi bên xoa nhè nhẹ cho anh là đôi mắt anh lại khép lại như muốn ngủ, tôi rất mong anh ngủ được vì biết rằng giấc ngủ 5, 10 phút đồng hồ đối với anh thật hiếm hoi trong một ngày liên tục phải chống đỡ với những cơn đau, với những lúc lộn ruột gan ra, gồng mình lên để ói ra mật xanh mật vàng …
Được một lúc anh đưa tay cho tôi, cầm tay anh bóp nhẹ như muốn hỏi, anh cố một nụ cười mà có vẻ như không có sức, tôi ghé sát nhìn vào mắt anh, đâu rồi đôi mắt tinh anh thuở nào, còn phảng phất đâu đây cái nét ngạo nghễ ngước nhìn lên trên như thách đố, như đón chờ những điều không hay đang đến… trong đầu tôi lướt qua hình ảnh cậu học trò môi đỏ như son, hai má lúc nào cũng hồng lên như má của thiếu nữ, và mọi thứ đỏ hơn khi cậu học trò đó ngang nhiên tranh luận gay gắt với thầy giáo của mình về một cách giải mới về một bài toán khó mà cậu mới tìm ra chưa được thầy công nhận.
Tôi biết con người ấy không dễ gì khuất phục, tôi chợt nhớ rồi hỏi nhỏ:
- Khu vực này có bao nhiêu người dân ký vào bản kiến nghị phản đối dự án Bauxit giết người kia?
- Ba ngàn… dân quanh vùng.
- Một mình một xe máy phải không? Thời gian bao lâu?
- Từ khi có lời kêu gọi trên trang Bauxite đến khi tôi bị bắt, chỉ mình tôi với nó…
Anh đưa mắt tìm tòi, tôi hiểu anh muốn chỉ cho tôi cái xe máy đã bao lần thay áo (sơn) mà tôi đã nhìn thấy khi đến đây.
Lặng đi không nói, tôi quay đi, mắt tôi cay xè, không thể, tôi đâu có thể chảy nước mắt một cách dễ dàng như thế, tôi đâu có là một thằng đàn ông yếu mềm cơ chứ. Tôi nắm chặt tay anh thêm và rồi đứng lên ra phía sau nhà rửa mặt, tôi không thể để anh thấy tôi ủy mị, càng không muốn sự ủy mị ấy lan qua anh… không, tôi không hề muốn điều đó.
Xả nước ra xối vào mặt, làn nước lạnh làm tôi tỉnh người, một cảm giác khang khác lạ lẫm chợt đến trong tôi, tôi ngỡ ngàng nhìn cái bể nước mới.
- Một chú đến thăm bố rồi tranh thủ làm cho mẹ con cái bồn nước mới đó chú.
Thảo nói và xả thêm nước rồi đưa tôi chiếc khăn lau mặt, tôi lắc đầu cứ để dòng nước chảy dài xuống cổ, tôi thích thế, thích sự tươi mát của dòng nước khi mà mọi thứ vẫn còn oi nồng, và mỉm cười với ý nghĩ: Sống bao nhiêu năm, bao nhiêu ngày không quan trọng, nhưng sống mà để đến những phút cuối bỗng dưng có bao nhiêu con người xa lạ mà anh chưa từng biết, chưa từng nghe, chưa từng gặp đến với anh như những người ruột thịt, sẵn sàng gánh vác san sẻ cùng anh thì quả là sống một ngày, một tháng hay một năm cũng đã là sướng cả một đời người. Sống được như thế mới thực sự gọi là sống! Và như thế thì sống bao lâu cũng chẳng còn quan trọng gì nữa. Nghĩ thế tôi phấn chấn bước vào với anh, trong đầu cứ hiện lên một con số 3000, ba ngàn người, ba ngàn chữ ký của những người nông dân quanh vùng, con số ấy nói lên tất cả, con số ấy là phần thưởng cao quý nhất mà anh đã giành được ở đời, nó hơn mọi huân huy chương cao quý nào khác, nó hơn mọi sự vinh danh của người đời.
Ba ngàn, con số của sự thầm lặng, khiêm nhường nhưng của một con người không hề biết khuất phục, để có con số ấy anh đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.
Tôi muốn thét lên, gầm lên vì con số 3000 ấy!
L.G.L.
Nguồn: https://www.facebook.com/gialac.luu (Hiện không còn lưu hành)
clip_image004
clip_image006
clip_image008

Copy từ: Bauxite Việt Nam


...........

Thứ Hai, 24 tháng 3, 2014

Bauxite Tây Nguyên: Bộ Công thương cần công khai...

(Tin tức thời sự) - “Khi Bộ Công thương cho rằng tiêu chuẩn quá cao thì phải công bố công khai toàn bộ các tiêu chuẩn kỹ thuật họ đã phê duyệt cho nhà máy Tân Rai”.
Ông Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện tư vấn phát triển (CODE) thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã nói như vậy với Đất Việt liên quan đến hai dự án bauxite ở Tây Nguyên.
PV: - Thưa ông Bộ Công thương vừa có báo cáo gửi đoàn giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đưa ra kiến nghị xin giảm đầu tư hồ chứa bùn đỏ vì thiết kế có độ an toàn quá cao. Ông đánh giá như thế nào về kiến nghị này khi từ trước tới nay đã có quá nhiều ý kiến lo ngại về sự an toàn hồ chứa?
Ông Phạm Quang Tú: - Đối với vấn đề như hồ chứa bùn đỏ của dự án bauxite Tây Nguyên, đầu tiên cần có quan điểm thống nhất mức độ an toàn phải đặt ở mức cao nhất. Lý do là vì bùn đỏ là một hóa chất độc hại, nếu bị phát tán ra môi trường sẽ bị ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe con người.
Bauxit Tây nguyên: Cứ lỗ mãi thì cho không còn hơn!
Đặc thù hồ bùn đỏ của Việt Nam được đặt ở Tây Nguyên, đầu nguồn các con sông, đặc biệt với hai dạ án bauxite Tân Rai, Nhân Cơ là đầu nguồn của sông Đồng Nai và Sêrêpok. Nếu giả sử có sự cố gì xảy ra thì nó không chỉ ảnh hưởng vùng đó mà cả tới vùng rộng lớn hạ du là Đông Nam Bộ, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vùng rất quan trọng cả về dân sinh cũng như phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
Hơn nữa, bùn đỏ là vấn đề từ trước đến nay xã hội quan tâm và lo lắng. Chính vì vậy việc xây dựng nó ở mức độ an toàn cao nhất là điều cần phải làm để bảo sự đồng thuận của xã hội.
Vậy trong trường hợp này tại sao chủ đầu tư là TKV và cơ quan chủ quản là Bộ Công thương trước đây đã xác định được mức độ an toàn và đưa ra tiêu chuẩn cao như vậy khiến dư luận xã hội rất yên tâm và hoan nghênh. Nay đặt lại vấn đề là mức an toàn quá cao và cần điều chỉnh lại?
Đề xuất này thể hiện phương pháp làm việc không thống nhất trước và sau giữa chủ đầu tư và cơ quan chủ quản.Tức là trước đây hồ này cũng do chủ đầu tư thiết kế và Bộ Công thương phê duyệt, sao nay lại nói là cao?.
Tôi cho rằng việc đặt an toàn ở mức độ cao nhất là cần phải làm và không nên giảm tiêu chuẩn kỹ thuật, có thể ảnh hưởng về mặt tương lai. Bởi hiện nay trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu, sự rủi ro môi trường, tai biến thiên tai ngày càng tăng.
Thêm nữa nếu giảm tiêu chuẩn xuống một lần nữa sẽ tạo ra sự lo lắng trở lại đối với xã hội về sự an toàn, bền vững của hồ chứa này.
Khi Bộ Công thương cho rằng tiêu chuẩn quá cao thì phải công bố công khai toàn bộ các tiêu chuẩn kỹ thuật họ đã phê duyệt cho nhà máy Tân Rai. Đồng thời cũng phải nói rõ tiêu chuẩn nào là cao quá để xã hội đóng góp ý kiến.
Còn phê duyệt thì nói làm thế này, đến khi thấy có vấn đề về tài chính thì lại đòi giảm thì không ai tin được. 
Ông Phạm Quang Tú cho rằng Bộ Công thương phải nói rõ tiêu chuẩn nào là cao quá để xã hội đóng góp ý kiến.
Ông Phạm Quang Tú cho rằng Bộ Công thương phải nói rõ tiêu chuẩn nào là cao quá để xã hội đóng góp ý kiến.
PV: - Không những thế Bộ Công thương còn xin giảm thuế môi trường, không đền bù tiền đất cho dân mà chỉ thuê có thời hạn. Có ý kiến cho rằng dự án đang phạm chính tiêu chí ban đầu đó là góp phần phát triển kinh tế, đảm bảo an toàn xã hội. Ông có đồng tình với ý kiến này?
Ông Phạm Quang Tú: - TKV muốn xin thuế VAT về bằng 0 vì cho rằng alumin chế biến sâu. Thực ra alumin chỉ mới trải qua một công đoạn gọi là chế biến không còn là quặng thô.
Để được xem là chế biến sâu hay nông thì phải trải qua một chuỗi giá trị của ngành nhôm. Ít nhất có 4 công đoạn (quặng thô, alumin, nhôm kim loại, sản phẩm sau nhôm kim loại…) thì chế biến alumin chỉ là công đoạn đầu tiên và so với chuỗi giá trị của ngành này thì chưa thể coi là chế biến sâu.
Do vậy nếu lập luận rằng như thế đã là chế biến sâu rồi, đóng góp nhiều cho xã hội rồi để không đóng thuế VAT nữa là không thỏa đáng. Đặt lại câu hỏi nếu không đóng thuế thì nhà nước, địa phương được hưởng lợi gì từ tài nguyên này.
Còn đóng thuế tài nguyên thì Việt Nam vẫn đang bị đánh giá là ăn vậm vào tài sản của tương lai. TKV còn xin giảm phí môi trường xuống giống như ngành than xuống mức 7%. Nhưng theo tôi không thể đánh đồng giữa bauxite và than được.
Để nói giảm hay tăng hay giảm cần phải có những nghiên cứu đánh giá khoa học về ảnh hưởng môi trường của khai thác bauxite so với than rồi mới đưa ra được con số.
Vậy Bộ Công thương đã dựa trên cơ sở nào để đưa ra đề xuất giảm thuế môi trường xuống bằng so với khai thác than?.
Còn với đất đai TKV đề xuất không đền bù tiền đất cho dân mà chỉ thuê có thời hạn. Riêng với phương pháp này cá nhân tôi đồng ý về mặt nguyên tắc. Lý do là vì một trong những điểm mà chúng ta lo lắng nhất từ trước tới nay đối với các dự án của Việt Nam khi được triển khai là thu hồi đất đai vĩnh viễn và người dân mất đất.
Tuy nhiên cái giá thuê được tính như thế nào? Nó phải được tính dựa trên cơ sở của 3 chi phí (đền bù hoa màu và các sản phẩm trên đất thuê tính đúng, đủ theo giá thị trường; rồi chi phí cơ hội trong thời gian thuê đất; công ăn việc làm…). Nhưng ở đây TKV lại giải trình là hỗ trợ sinh kế trong thời gian thuê đất là không thỏa đáng.
Phải khẳng định trong trường hợp này là chủ đầu tư phải đền bù chứ không phải hỗ trợ bởi dự án đang lấy đất của dân. Nếu nói hỗ trợ giống như đền bù tái định cư là chủ đầu tư nói kiểu ban ơn. Chính từ ‘hỗ trợ’ dễ tạo ra khoảng an toàn cho doanh nghiệp. Mà đã là hỗ trợ thì dân không có quyền đòi hỏi, dù 5 đồng hay 1 đồng cũng là hỗ trợ.
Thêm một vấn đề nữa là trả lại cho dân bằng đất nào? Khi trả lại phải ít nhất là loại đất có thể canh tác trước đây chứ không phải khi dân trao cho anh là đất thịt nạc còn khi trả lại thì là cục xương.
Do vậy cá nhân tôi cũng còn rất băn khoăn với cách thức triển khai khi chủ đầu tư khi đưa ra đề xuất này. Do vậy nếu có đồng ý thì chính quyền địa phương phải có những quy trình cam kết chặt với chủ đầu tư nếu không sẽ đẩy người dân vào thế khó.Cần cảnh giác nếu không đất trả lại sẽ không có khả năng canh tác.
PV:- Theo ông các cơ quan chức năng nên ứng xử như thế nào cho phù hợp với dự án này để đảm bảo tính công bằng giữa các doanh nghiệp? Ông có kiến nghị gì?
Ông Phạm Quang Tú: - Hiện nay nhà máy Tân Rai đã xây dựng xong đã đi vào vận hành ổn định và có sản phẩm xuất khẩu ra bên ngoài. Theo kết luận 245 của Bộ Chính trị từ tháng 4/2009 thì Tân Rai và Nhân Cơ là các nhà máy thí điểm.
Do vậy hiểu thí điểm là sau khi triển khai phải có đánh giá đúc rút kinh nghiệm. Nhìn lại thời gian ban hành kết luận của Bộ Chính trị đến nay cũng là 5 năm, công việc của Tân Rai đã xong thì đây là thời điểm cần đánh giá lại một cách nghiêm túc.
Hiện nay Ủy ban Thường vụ Quốc hội đang chủ trì đánh giá hiệu quả, tôi mong muốn đoàn giám sát làm rõ thêm ngoài hiệu quả tài chính của dự án thì hiệu quả xã hội và môi trường mà chính quyền và người dân địa phương nhận được như thế nào. Cần đánh giá mở rộng thêm.
Một trong những phương pháp luận về kinh tế tôi tin là các nhà làm luật về kinh tế của Ủy ban kinh tế của Quốc hội biết rõ là phải nội địa hóa tất cả các chi phí ngoại biên bao gồm những ảnh hưởng về môi trường và xã hội vào trong bài toán hiệu quả.
Sau kết quả đánh giá rồi mới có đề nghị tiếp tục hay là dừng.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Bích Ngọc (thực hiện)


Copy từ: Đất Việt

.......

Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2014

Trách nhiệm của Bộ Công Thương trong các dự án bauxite (trả lời phỏng vấn của Bauxite Việt Nam)

 
TS. Nguyễn Thành Sơn
Giám đốc Ban Quản lý các dự án than đồng bằng sông Hồng - Vinacomin
(1) Về việc Bộ Công Thương đề xuất các “ưu đãi”
Các phương tiện thông tin đại chúng gần đây đưa tin nhiều về báo cáo giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Bộ Công Thương về các dự án bauxite Tây Nguyên, trong đó có nêu ra các “ưu đãi” để dự án có “lãi”.
Theo báo cáo của Bộ Công Thương, hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ đều đã điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư lên 15.400 tỷ đồng và 16.800 tỷ đồng; lỗ lũy kế của Tân Rai đến năm 2015 là 460 tỷ đồng, Nhân Cơ lỗ dự kiến đến 2020 là 3.000 tỷ; một yếu tố dẫn đến lỗ tăng mạnh là do giá bán alumin thấp hơn dự kiến 70 USD/tấn. Do đó, Bộ Công Thương đã đề xuất và tham mưu với nhà nước tiếp tục “ưu đãi” một cách tương đối triệt để và đồng bộ cho cả hai dự án này.
Cách đây vài năm, cũng trên diễn đàn Quốc hội, Bộ Công Thương đã có báo cáo giải trình bằng giấy trắng, mực đen tương đối dài và toàn diện nhằm khẳng định tính khả thi, sự cần thiết, và hiệu quả của việc triển khai các dự án bauxite Tây Nguyên.
Nghiên cứu nội dung của hai báo cáo này, có thể nhận ra việc Bộ Công Thương đã và đang “cố đấm ăn xôi”, tìm mọi lý lẽ để bao biện cho những ý kiến tham mưu sai lầm, để đánh lạc hướng dư luận về những yếu kém, bất cập trong quản lý và để lẩn tránh trách nhiệm của Bộ Công Thương về hai dự án bauxite kém hiệu quả này.
Trước hết, mức lỗ thật của cả hai dự án còn cao hơn nhiều nếu tính đúng và tính đủ. Cái gọi là “hiệu quả” của Bộ Công Thương là “hiệu quả có điều kiện” (không bình thường, không tính thuế, coi tài nguyên khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân là sở hữu của một nhóm người) và là “hiệu quả” theo các tiêu chí, tiêu chuẩn riêng của Bộ Công Thương (“sáng tác”), chứ không phải theo các chuẩn mực của kinh tế thị trường.
Cả hai dự án bauxite đều thuộc lĩnh vực khai thác khoáng sản (không có nguyên liệu chính trong cơ cấu giá thành) thuộc ngành có IRR bình quân lớn hơn 30%. Mặc dù vậy, Bộ Công Thương vẫn báo cáo lỗ đến 7 năm liên tục. Nếu dự án “buộc phải lỗ” 1-3 năm đầu còn có thể chấp nhận được (vì phải trả gốc và lãi vốn vay), nhưng sau vài năm lỗ mức lãi phải tăng lên rất nhanh tới 18-30% để đảm bảo tính tổng thể cả đời dự án có hiệu quả (IRR> lãi suất, và NPV>0).
Thứ hai, về dự báo giá nhôm kim loại, Bộ Công Thương đã chỉ dựa vào các số liệu dự báo có “lợi” cho các giải trình và ý kiến tham mưu của mình nên thiếu khách quan, không khoa học. Mức giá alumina hay giá nhôm kim loại như trên thị trường hiện nay đã được các nhà khoa học dự tính và cảnh báo cách đây vài năm. Nhìn chung, các đánh giá của Bộ Công Thương (từ trước đến nay) về các dự án bauxite rất chủ quan và không đúng bản chất. Các giải trình của Bộ Công Thương trước Quốc hội (hiện nay và cách đây vài năm), cũng như các ý kiến của Bộ Công Thương tại cuộc hội thảo của VUSTA cách đây vài tháng đều không đúng thực tế.
Thứ ba, về ưu đãi giảm thuế/phí, việc Bộ Công Thương phải xin các “ưu đãi” cho hai dự án này cho thấy: (i) thực chất (sự thật) là cả hai dự án không có hiệu quả; và, (ii) trong quản lý về tài nguyên khoáng sản của Bộ Công Thương có quá nhiều bất cập, không bình thường.
Việc xin “ưu đãi” cho cả hai dự án để “lỗ” thành “lãi” vào sau năm 2020 chỉ tạm thời làm “mát mặt” cơ quan tham mưu/quản lý nhà nước như Bộ Công Thương. Còn trên thực tế, cả hai dự án đang và sẽ “đau đầu” về dòng tiền (Cash Flow). Đối với doanh nghiệp, trong trường hợp cụ thể của hai dự án bauxite, khi mới đi vào hoạt động, dòng tiền là yếu tố không thể bỏ qua. Nếu không “bấu” vào các mỏ than ngoài Quảng Ninh (lãi/doanh thu/dòng tiền từ than) thì dự án Tân Rai sẽ tồn tại không quá 3 năm nữa.
Thứ tư, về “ưu đãi” giảm mức đầu tư hồ bùn đỏ, việc Bộ Công Thương xin ưu đãi giảm mức đầu tư của hồ bùn đỏ chẳng khác nào “vạch áo cho người xem lưng”. Thiết kế hồ bùn đỏ do chính Bộ Công Thương phê duyệt. Phải chăng đã có sự móc ngoặc giữa các bên (cơ quan quản lý, tư vấn thiết kế, chủ đầu tư, nhà thầu) để nâng khống vốn đầu tư của dự án (giống như đường cao tốc)? Phải chăng Bộ Công Thương và các bên đã lợi dụng “sức ép” của dư luận để kéo dài tiến độ triển khai dự án? Phải chăng nghi ngờ của Bộ Công Thương trước đây về các “thế lực phản động” lien quan đến hai dự án này đã trở thành hiện thực?.
Trước khi cho phép “giảm đầu tư cho hồ bùn đỏ”, Chính phủ nên xem lại trách nhiệm của người đã phê duyệt thiết kế, và nên có hình thức kỷ luật thỏa đáng vì đã gây ra thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng (do dự án chậm tiến độ và tăng vốn đầu tư).
Hồ bùn đỏ Tân Rai được thiết kế để đảm bảo mức an toàn cho hàng chục năm sau. Đến nay, hồ bùn đỏ đầu tiên này vận hành chưa được 50% công suất thải bùn đỏ, và thời gian tồn tại mới chỉ vài % (tính theo tuổi thọ) chưa thể đánh giá là quá “an toàn” được. Chưa có bất kỳ một báo cáo đánh giá nào về các giải pháp kỹ thuật, chưa có các số đo quan trắc liên quan đến hồ bùn đỏ. Trong khi trên thực tế công nghệ thải bùn đỏ của Tân Rai là hoàn toàn “ướt”. Bùn đỏ thải ra là “ướt”- độc hại, sau một thời gian mới “khô”. Nếu nhà máy vận hành liên tục đủ công suất thì hồ bùn sẽ “ướt” cho đến khi nhà máy chuyển sang thải vào hồ bùn khác. Cùng một diện tích chiếm đất, nếu thải “ướt” thì dung tích chứa của hồ chỉ bằng 1/3-1/5 so với hồ bùn đỏ được thải “khô”. Số lượng hồ bùn đỏ của Tân Rai sẽ gấp nhiều lần so với hiện có. Lý do xin giảm mức đầu tư (sửa đổi thiết kế) của Bộ Công Thương đưa ra là không logic.
Trên thế giới, các hồ bùn đỏ nằm sát biển (rất an toàn, không may khi vỡ, bùn đỏ chỉ tràn ra biển và thiệt hại chỉ như “muối bỏ biển”) nhưng vốn đầu tư còn cao gấp 5-10 lần so với của Tân Rai. Đầu tư cho khâu an toàn chẳng bao giờ là “cao” cả.
Thứ năm, về khả năng làm ra nhôm kim loại, cách đây không lâu (trong năm 2012/2013), Bộ Công Thương đã từng “ăn bánh vẽ” của một đối tác nước nước ngoài (Atlantic – Úc) khi đối tác đó đưa ra một “chương trình” phát triển từ mỏ bauxite, đường sắt trên Tây Nguyên đến cảng biển xuất khẩu với vốn đầu tư 3-5 tỷ U$. Trong đó, Atlantic cũng chỉ chủ yếu dựa vào xuất khẩu hàng năm vài chục triệu tấn quặng bauxite (mới có lãi). Cách đây khá lâu (trước 2000), dự án đồng Sinh Quyền do chính Bộ Công Thương phê duyệt thiết kế, khi đi vào hoạt động, do công nghệ quá lạc hậu, việc xuất khẩu đồng kim loại cho thấy không hiệu quả bằng xuất khẩu quặng tinh. Hiện nay, việc xuất khẩu quặng bauxite tinh (alumina) trên Tây Nguyên còn chưa có lãi (ưu đãi hết mức còn “tính” mãi không ra). Việc làm ra nhôm kim loại có mức tiêu hao điện rất cao. Các nguồn thủy điện lớn rẻ tiền (dưới 3 cents/kWh) ở Việt Nam không còn. Cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam là cơ cấu tiêu hao năng lượng ở mức quá cao. Trong bối cảnh đó, Bộ Công Thương không nên đưa ra cho Quốc hội bất kỳ cái “bánh vẽ” nào nữa về điện phân nhôm.
(2) Suy nghĩ về cách tiếp cận của Bộ Công Thương
Trước hết, việc tính toán lỗ, lãi kèm theo các điều kiện là cách tiếp cận không đúng. Việc xin những “ưu đãi” không bình thường (giảm thuế, giảm phí, giảm mức độ an toàn) sẽ làm cho kinh tế thị trường bị méo mó và chỉ khuyến khích doanh nghiệp ỷ lại.
Thứ hai, theo lập luận của Bộ Công Thương, mặc dù lỗ, nhưng hai dự án vẫn có hiệu quả kinh tế - xã hội “tổng hợp”. Đây là một lập luận hoàn toàn định tính, không có cơ sở kinh tế. Bất kỳ một dự án sản xuất kinh doanh nào, đặc biệt trong lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản, cũng phải đảm bảo trước hết hiệu quả kinh tế - tài chính. Một dự án kinh doanh không có hiệu quả kinh tế - tài chính sẽ không thể mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.
Thứ ba, Bộ Công Thương là cơ quan quản lý nhà nước, có chức năng và nhiệm vụ khác với một doanh nghiệp. Trong trường hợp của hai dự án bauxite, Bộ Công Thương là người đã đề xuất và tham mưu với Chính phủ để TKV được “cưỡi lên lưng hổ”. Những ưu đãi mà TKV đưa ra là dễ hiểu dưới góc độ của một doanh nghiệp đang “cưỡi trên lưng hổ”. Bộ Công Thương lẽ ra phải đưa ra các đề xuất căn cơ hơn, triệt để hơn. Thay vì “nhại” lại các đề xuất của TKV, Bộ Công Thương phải có trách nhiệm đề xuất để đưa TKV xuống khỏi lưng hổ một cách ít mạo hiểm nhất (giống như trường hợp Cảng bauxite Kê Gà). Với việc đề xuất miễn giảm thuế/phí, Bộ Công Thương chỉ tạm làm TKV yên tâm để tiếp tục “cưỡi hổ”, còn việc đề xuất giảm vốn đầu tư cho khâu an toàn (hồ bùn đỏ), Bộ Công Thương đã vô tình làm cho “con hổ” trở nên nguy hại hơn.
Thứ tư, điều dư luận quan ngại nhiều hơn về những nguyên nhân thực sự của việc cả hai dự án đều không có hiệu quả là do công nghệ lạc hậu. Là một cơ quan quản lý có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực công nghiệp, Bộ Công Thương cần báo cáo rõ với Quốc hội về công nghệ khí hóa than của cả hai dự án rất lạc hậu (thuộc những năm 50 của thế kỷ trước). Là một cơ quan quản lý có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực khai khoáng, Bộ Công Thương cần báo cáo rõ với Quốc hội về những bất cập, khó khăn không thể khắc phục trong bảo vệ và phục hồi môi trường đã được thực tế ba năm qua chứng minh. Thay vì xin ưu đãi giảm phí môi trường, Bộ Công Thương nên báo cáo rõ với Quốc hội liệu có thể hoàn thổ để trồng chè, cà phê, cau su hay chỉ có thể “phủ xanh là được”. Là một cơ quan quản lý có bề dày kinh nghiệm về năng lượng, Bộ Công Thương cần báo cáo rõ với Quốc hội về giá thành 1kWh điện do nhà máy nhiệt điện chạy than của dự Tân Rai làm ra là bao nhiêu? v.v.
Thứ năm, cần có sự lựa chọn. Đối với nền kinh tế, TKV nằm trong ‘top ten’. Đối với TKV, than ở Quảng Ninh là không thể thiếu, chiếm 90-99% lợi nhuận. Bauxite/alumina Tây Nguyên nền kinh tế chưa có nhu cầu. Cả hai dự án alumina trên Tây Nguyên có thể đóng cửa bất cứ lúc nào cũng không ảnh hưởng đến nền kinh tế, còn các mỏ than ngoài Quảng Ninh, nếu phải đóng cửa, vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam sẽ rất rủi ro.
Cuối cùng, trong lĩnh vực công nghiệp khai khoáng nói chung đã đến lúc phải xem lại trách nhiệm của Bộ Công Thương về công tác quy hoạch phát triển và dự báo thị trường trong thời gian qua. Đây là hai khâu quan trọng nhất, nhưng cũng bất cập nhất, thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương./.
N. T. S.
Tác giả gửi trực tiếp cho: Bauxite Việt Nam

..................

Quả báo nhãn tiền


Tô Văn Trường
Sau những vật nài xin ưu đãi nhiều thứ kể cả vốn đầu tư, thuế tài nguyên, môi trường… hai dự án bauxite Tây Nguyên (Tân Rai và Nhân Cơ) đã phải công khai thừa nhận từ nay đến năm 2020, Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) sẽ lỗ hàng nghìn tỉ đồng. Riêng Tân Rai năm 2013 lỗ hơn 258 tỉ đồng, Nhân Cơ còn nặng nề hơn, dự kiến 2015 sẽ lỗ hơn 671 tỷ đồng, v.v.
Thực tế bi đát của dự án này là điều có thể thấy trước và không làm ai ngạc nhiên. Nói theo nhà Phật thì “quả báo nhãn tiền” đã có ngay chứ không cần đợi đến kiếp sau.
clip_image001
Bể lắng quặng đuôi của Nhà máy Alumin Tân Rai – Lâm Đồng. Ảnh: QUANG TÚ (nld.com)

Nguy hiểm hơn, có vẻ như những người quyết định và đang theo đuổi dự án này đã lỡ ngồi trên lưng hổ rồi, nên cứ tiếp tục liều mạng bất chấp cái giá mà nhân dân và đất nước phải trả trong điều kiện nền kinh tế đang suy kiệt hiện nay. Việc cố tình che giấu tội lỗi thường mang lại hậu quả lớn hơn nhiều tội lỗi ban đầu.
TS Nguyễn Thành Sơn mới đi khảo sát ở Tây Nguyên cho biết thực tế đã chứng minh: Bộ Công Thương và TKV đã giải trình không đúng sự thật để cố đấm ăn "khoai"! Giá thành chưa hạch toán đúng và đủ vì quyết toán chưa xong (mức khấu hao chưa đúng). Khâu cung cấp đầu vào là quặng bauxite do TKV chỉ định (người khai thác, cũng như giá bán bauxite). Thực chất là thuê ngoài (thông qua "đầu nậu" là một đơn vị thành viên của TKV). Khâu vận chuyển tiêu thụ về Gò Dầu cũng do TKV chỉ định và ép giá. Hoàn thổ qua dự án thí điểm tại chỗ sau 3 năm cho thấy chỉ có thể trồng cây keo, những loại cây khác không thể sống được. Công nghệ khí hóa than để cung cấp nhiệt cho khâu luyện alumina thuộc loại cổ điển cách đây khoảng 50 năm, nên phải dùng than cục đắt tiền (chở từ Quảng Ninh vào) và giống hệt như của các lò khí hóa của các lò gốm thủ công ở Bát Tràng, bên kia bờ sông Hồng của Hà Nội. Đặc biệt, nguy cơ nổ là rất lớn, v.v.
Cách đây hai năm, người viết này đã từng cảnh báo kinh doanh theo lợi nhuận phải chấp nhận “lời ăn, lỗ chịu”! Về khía cạnh kinh tế, nguyên tắc phải tính đúng, tính đủ để tránh lời giả, lỗ thật. Hay nói cách khác, lời doanh nghiệp và nhóm lợi ích hưởng những lỗ thì nhà nước nghĩa là toàn dân phải chịu. Trong thực tế, TKV lẫn lộn, không phân biệt nổi hiệu quả kinh tế-tài chính (là của doanh nghiệp), hiệu quả kinh tế-xã hội (của xã hội). Các nước gần đây còn chú trọng đến hiệu quả kinh tế-môi trường là những khái niệm không thể lập lờ, nhất là cái khoản thu to nhất của ngân sách là thuế xuất khẩu!?
Cần sử dụng mô hình tổng thể cân bằng kinh tế để tính toán lời lỗ một cách bài bản, khoa học. Cách tính đơn giản hơn đem chi phí sản xuất 1 tấn sản phẩm tại chỗ, cộng chi phí vận chuyển ra cảng, trong chi phí sản xuất cần tính cả chi phí đầu tư. Nếu có giá trị tổng đầu tư thì đem chia cho đời sống của nhà máy để ra chi phí khấu hao phải tính vào giá thành. Sau đó, so sánh giá 1 tấn sản phẩm trên thị trường thế giới thì biết ngay khoản lời, lỗ của dự án. Ngay cả trong trường hợp tính có lãi cũng phải lấy lãi này so sánh với lãi, nếu đem làm chuyện khác như trồng cà phê để tính lãi theo nguyên tắc giá thành cơ hội (opportunity cost) phải lấy lãi từ làm bauxite trừ đi lãi trồng cà phê. Đó mới là lãi thực. Ngoài chi phí cơ hội kinh tế, còn chi phí xã hội thì khôn lường: hàng ngàn người mất nguồn thu nhập mà nếu tính đủ thì không chỉ là tiền công 'lấy công làm lời' mà còn cả các chi phí bảo trợ xã hội đang bị bỏ qua. Đất bazan là đặc sản của Tây Nguyên, một trong những loại đất địa thành tốt nhất cho nông nghiệp nhất là cây công nghiệp dài ngày nhờ có tỷ lệ sét cao, khả năng giữ nước, giữ phân rất tốt, khi bị bóc đi, bề mặt bị mưa rửa trôi, xói mòn là tổn thất không dễ bù đắp. Dù được bao cấp, ưu đãi rất nhiều nhưng tính bằng cách nào chúng tôi cũng chỉ thấy dự án bauxite lỗ to chưa kể rất nhiều rủi ro khó lường khác về chính trị, an ninh quốc phòng, kinh tế, xã hội, và môi trường. Cảnh báo trên, đến nay nhìn lại càng được thực tế chứng minh là chính xác.
Khai thác bauxite không được sự đồng thuận của các nhà khoa học Việt Nam và cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dẫn chứng kết quả điều tra về việc này của các chuyên gia Liên Xô cũ, là họ không tán thành việc khai thác này, rất không có lợi cho Việt Nam. Trước đây có lời giải thích là ta làm bauxite vì “chủ trương lớn”. Nếu cần hỏi tiếp thì phải là tại sao các vị có trách nhiệm lại quyết định có “chủ trương lớn”!? Dự án bauxite Tây Nguyên nếu nhìn lại quá trình đàm phán và cam kết, có thể nói đó là chuyện đã chót lỡ, rồi mới đưa ra Quốc hội cho đủ thủ tục và Chính phủ thực thi.
Theo quy trình cải thiện liên tục PDCA (Plan Do Check Act – Kế hoạch, Thực hiện, Kiểm tra và Hành động), thừa đủ dữ kiện để đánh giá ai quyết định về chủ trương đầu tư, phê duyệt dự án thì người ấy phải chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước (Quốc hội) và nhân dân. Còn những ai đã báo cáo không chính xác để dẫn đến quyết định sai thì những người đó phải chịu trách nhiệm trước người đã ra quyết định.
Vấn đề đã rõ như ban ngày, đâu cần thêm thông tin để làm quyết định. Vấn đề là ai quyết định? Không lẽ Quốc hội chỉ vì “Đảng cử dân bầu” nên vẫn né tránh không bàn đến các “chủ trương lớn” và quan tâm đến nguyện vọng của cử tri. Xem lại các trang báo mạng, báo giấy thời sôi động can ngăn dự án "Trời gầm" này thì sẽ thấy nhân dân ta thông minh và tâm huyết biết chừng nào. Gần đây, Chính phủ biết lắng nghe các ý kiến phản biện, đối chiếu với thực tế đã hủy bỏ dự án cảng Kê Gà. Bây giờ, dừng dự án Nhân Cơ tuy muộn, dù sao còn hơn không vì chỉ cần thí điểm dự án Tân Rai là quá đủ! Bài học đổ vỡ đắt giá về Vinashin, Vinalines, v.v. rất có thể dự án bauxite Tây Nguyên trở thành nấm mồ của một anh cả đỏ khác là Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam.
T. V. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho : Bauxite Việt Nam
.....

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

Bô-xít Tây Nguyên sau 4 năm: "Đừng lao đầu vào núi"

(Kienthuc.net.vn) - Việc chạy nghiệm thu của nhà máy Tân Rai trong thời gian vừa qua không đạt công suất, thì có thể cho rằng không có cơ sở nói dự án đạt yêu cầu.
Nhìn là biết lỗi từ đâu

Dù là người của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), nhưng TS Nguyễn Thành Sơn khá thẳng thắn khi cho rằng: Tất cả những gì đang xảy ra ở Tân Rai đã chứng tỏ sự yếu kém của cả ban quản lý dự án, nhà thầu và chủ đầu tư.

Tại ban quản lý dự án, hầu hết cán bộ đều không làm chuyên sâu về bauxite mà được điều từ điện, từ than sang. Ở đây cũng có một vài người tốt nghiệp trường Đại học Bách Khoa của Hà Nội và TPHCM nhưng họ còn trẻ, thiếu kinh nghiệm. Không thể nói người của ban quản lý không giỏi, nhưng đối với bô-xít, họ không có chuyên môn sâu, khi làm xác định vừa làm vừa mày mò học.

Băng tải vận chuyển quặng tinh. 

Điều đáng nói bô-xít là dự án phức tạp thiên nhiều về hóa chất vì thế, đội ngũ nhân lực của Việt Nam như đang có hiện nay không đáp ứng đủ tầm quan trọng của một dự án lớn cả về vốn và kỹ thuật như thế này. Điều này thể hiện rất rõ ở Tân Rai. Để luyện alumina, nguyên liệu đầu vào ngoài quặng còn cần điện và khí. Vì thế, tại đây phải có nhà máy điện và nhà máy khí hóa than. Do là người làm điện điều sang nên nhà máy điện chạy rất "ngon". Trong khi đó, nhà máy khí hóa than (chế biến than thành khí) có vấn đề. Nhà máy này sử dụng công nghệ lạc hậu từ những năm 60.

Hiện nay, với công nghệ hiện đại các nhà máy khí hóa than có thể sử dụng tất cả các loại than, kể cả than xấu. Tuy nhiên, do sử dụng công nghệ lạc hậu nên nhà máy khí hóa than ở Tân Rai đòi hỏi than phải là loại than tốt, than cục trở từ Quảng Ninh vào. Điều này vừa gây khó khăn trong việc vận chuyển than vừa gây hao tổn than do dùng công nghệ lạc hậu.

Đối với nhà thầu Trung Quốc, họ có kinh nghiệm làm bauxite giống như bô-xít ở các tỉnh miền núi phía Bắc ở nước ta (bô-xít ở Lạng Sơn) chứ không làm bô-xít kiểu ở Tây Nguyên (bô-xít có liên quan đến đất bazan từ núi lửa). Điều này thể hiện khá rõ trong việc tuyển quặng. Nhà thầu Việt Nam thì không đánh giá hết được đặc tính của quặng nên mới dẫn đến việc "copy" công nghệ cũng của Trung Quốc nên không tuyển rửa được quặng đúng như công suất đề ra...

Đối với chủ đầu tư, phải thừa nhận rằng chủ đầu tư (Vinacomin) có năng lực và chuyên môn trong lĩnh vực khai thác mỏ, tuy nhiên lại không có kinh nghiệm trong khai thác bô-xít cũng như là luyện bô-xít thành alumina bây giờ và luyện alumina thành nhôm sau này. Như vậy, trong cả một công đoạn rất dài từ đào bô-xít , luyện alumina...  chủ đầu tư chỉ có năng lực trong mỗi một khâu là đào bô-xít, còn toàn bộ những công đoạn quan trọng, chủ đầu tư không có kinh nghiệm. Đấy là về mặt kỹ thuật, về mặt tiền vốn, để đầu tư cho bô-xít, chủ đầu tư phải lấy 99,36% lợi nhuận là từ than (khoảng 4.000 tỷ đồng) để đầu tư cho bô-xít.

Chưa đủ công suất thì chưa yên tâm

TS Nguyễn Thành Sơn cho biết, dự án Tân Rai được thực hiện theo kiểu chìa khóa trao tay, nghĩa là khi chạy nghiệm thu phải đảm bảo chạy liên tục trong đúng 1 tháng (đúng 720 giờ), thiếu 1 giờ cũng coi như không đạt, chạy gián đoạn 1 giờ cũng không thành công. Ngoài ra, trong 720 giờ liên tục ấy bắt buộc phải đảm bảo chạy đủ 100% công suất.

Theo công bố của nhà đầu tư, dự án Tân Rai chạy nghiệm thu từ 25/11-26/12/2012, đúng 1 tháng. Theo tính toán, mỗi năm Tân Rai sản xuất ra 650.000 tấn alumina, như vậy, nếu đủ công suất, mỗi ngày Tân Rai phải cho ra lò khoảng 2.000 tấn alumina, 1 tháng phải đạt khoảng 60.000 tấn alumina. "Tôi chắc chắn, sau 1 tháng, trong kho của Tân Rai không có đủ 60.000 tấn alumina. Những "lỗi" phát sinh trong thời gian qua có thể đã ảnh hưởng đến việc "sụt" công suất của Tân Rai. Có nhiều cách giải thích để biện hộ cho việc không đủ công suất ví dụ nhu cầu không lớn nên chỉ sản xuất ít. Tuy nhiên, ngay cả khi nhu cầu không lớn thì khi chạy nghiệm thu vẫn phải đảm bảo chạy đủ công suất bởi chỉ khi nào chạy đủ công suất thì mới làm lộ tất cả những nhược điểm của công nghệ. Chắc chắn, một khi chạy đủ công suất, lỗi còn nhiều hơn thế này nhiều", TS Nguyễn Thành Sơn cho biết.

Bãi thải quặng. 

Mối lo thải ướt vẫn rình rập

TS Nguyễn Thành Sơn kể, khi đến Tân Rai vào tháng 9/1012, khi nhà máy tuyển quặng đã đi vào hoạt động và lộ "lỗi" nghiêm trọng là bùn thải quặng đuôi không lắng được khiến nhiều người đặt mối lo về bùn thải đỏ. Bùn thải quặng đuôi vốn là loại bùn thải không khó xử lý và không quá độc hại mà còn gặp "lỗi", vậy với bùn đỏ (sản phẩm thải của quá trình luyện alumina) vốn rất độc hại liệu có xử lý triệt để được không khi mà chúng ta áp dụng công nghệ thải ướt, một công nghệ đã quá lạc hậu so với thế giới. Đến thời điểm này, khi mà chạy nghiệm thu không đạt đủ công suất, một loạt lỗi nghiệm trọng đã "lộ mặt" khiến nhiều người có sự am hiểu về bô-xít không thể "kê gối cao đầu mà ngủ".

Bể lắng quặng. 

Buộc phải chạy nghiệm thu đủ công suất

TS  Nguyễn Thành Sơn thẳng thắn, việc dừng cảng Kê Gà là một bài học lớn cho Tân Rai và Nhân Cơ. Nhân Cơ nên học Kê Gà mà tạm thời dừng lại vì ban quản lý của Nhân Cơ cũng "na ná" như Tân Rai, đấy là chưa kể đường vận chuyển của Nhân Cơ còn phức tạp hơn Tân Rai do ở xa hơn. Tân Rai có điều kiện tốt hơn còn không làm tốt thì Nhân Cơ làm sao có thể làm thành công.

Đối với Tân Rai, việc lúc này là bắt buộc phải chạy nghiệm thu đủ công suất. Bởi chỉ khi đủ công suất, mọi nhược điểm mới bộc lộ ra hết, từ đó mới dễ dàng khắc phục. Hơn thế, khi chưa đủ công suất đã "trao tay", nhà thầu rút lui, lỗi phát sinh, lúc ấy chúng ta sẽ phải sống trọn cả đời dự án với những "vết thương" khó chữa.

Ngoài ra, cần lưu ý là nên chuyển từ công nghệ thải ướt thành công nghệ thải khô. Việc chuyển sang thải khô vừa đảm bảo an toàn vừa đỡ tốn diện tích đổ thải. "Nếu quyết tâm thì hiện giờ chuyển vẫn kịp. Với Tân Rai đã đâm lao rồi thì phải theo lao, nhưng có lao cũng cần lao thông minh chứ đừng lao đầu vào núi", TS Nguyễn Thành Sơn  quả quyết.

TS Nguyễn Thành Sơn. 

Tập trung chủ lực cho than

TS Nguyễn Thành Sơn cho rằng, cách tốt nhất hiện nay là thay vì chạy theo bô-xít chúng ta nên tập trung cho than. "Có bô-xít hay không nền kinh tế cũng không ảnh hưởng gì, bán một ít bô-xít cũng không làm kinh tế nước ta tốt hơn mà nhập bô-xít cũng không gây ảnh hưởng gì, nhưng chúng ta không thể nhập than được. Ngành than còn không tự lo nổi mình mà còn phải chi cho bô-xít nữa thì sẽ từ ngắc ngoải mà rãy chết. Cách tốt nhất hãy tập trung chủ lực cho than. Khi than tốt mới tính đến những đầu tư khác".

- Khi nhà máy sản xuất bauxite ở Hungary gặp sự cố về bùn đỏ, chủ đầu tư đã sang tận nơi, chứng kiến tận mắt nghe quan chức của Hungary nói rằng sẽ chuyển từ công nghệ thải ướt sang công nghệ thải khô cho an toàn. Vậy mà khi về nước chủ đầu tư vẫn quyết áp dụng công nghệ thải ướt vốn đã rất lạc hậu và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
- Trong trường hợp Tân Rai chạy không đạt đủ công suất hoặc phát sinh lỗi nhiều thì nên tính toán đến phương án giảm công suất xuống một nửa, 50% công suất của Tân Rai cũng đáp ứng đủ nhu cầu ở trong nước.

Copy từ: Kiến Thức

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Việt Nam – cuộc thảo luận bị hủy bỏ, những câu hỏi về quan hệ Việt-Nhật


Ari Nakano

Báo Asahi Shimbun Ngày 25 tháng Sáu năm 2013
Giáo sư Đại học Daito Bunka
Ari Nakano là giáo sư tại Đại học Daito Bunka. Bà là nghiên cứu sinh tại đại học Keio và đoạt bằng Tiến sĩ tại đây. Các lĩnh vực chuyên sâu của bà là Chính trị, Ngoại giao và Nhân quyền ở Việt Nam.
Năm nay đánh dấu năm thứ 40 thiết quan hệ ngoại giao giữa Nhật Bản và Việt Nam. Khi thủ tướng Shinzo Abe thăm Việt Nam vào tháng Giêng, hai quốc gia khẳng định quan hệ hai bên đã nâng cao đến tầm “đối tác chiến lược” và đồng ý tiếp tục hợp tác xây dựng các nhà mày điện hạt nhân và phát triển các nguồn đất hiếm.
Thế nhưng, nhiều vấn đề đã xuất hiện liên quan đến những nguồn lực mới đây và việc phát triển năng lượng tại Việt Nam. Nếu chỉ nhìn đơn giản sự tiến bộ cho tới lúc này thì thấy có nguyên nhân lớn liên hệ tới việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở đây.
 
Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, bên phải, và thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng duyệt đội danh dự tại lễ tiếp đón tổ chức tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội, Việt Nam, thứ Tư 16 tháng 1, 2013. (AP)  

Việc khai thác mỏ bô xit và sản xuất alumina đang tiến hành do các công ty Trung Hoa tài trợ tại Tây Nguyên Việt Nam là một dự án tầm cỡ lớn ngang tầm với việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Song dự án này đã được ký kết bí mật bởi các nhà lãnh đạo hai đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam, và công việc được bắt đầu mà không có bàn bạc gì cả tại Quốc hội Việt Nam.
Không đưa ra được các báo cáo tác động môi trường, và có ý kiến cho rằng dự án này vi phạm luật pháp. Do thiếu minh bạch trong tiến trình ra quyết định cũng như không buộc được chính phủ phải giải thích các chi tiết của dự án, nên một phong trào đối lập có tổ chức do trí thức Việt Nam lãnh đạo đã lớn mạnh lên, và cuộc phiêu lưu bô xit này đã gắn kết hành động đòi dân chủ và đòi công khai mọi chuyện.

ÍT LÝ GIẢI ĐƯỢC VỀ DỰ ÁN KHAI THÁC MỎ BÔ XIT
Tôi đã phỏng vấn nhiều người ở các làng làm nông nghiệp tại các tỉnh Đắc Nông và Lâm Đồng, nơi các nguồn bô xit đang được khai thác, nhưng không ai trong những người cư dân nơi đây đã được giải thích rõ ràng về các mỏ bô xit và việc xây dựng và mở rộng các nhà máy tinh luyện alumina, và cũng chẳng biết gì hơn về các kế hoạch cưỡng chiếm đất đai, chuyện đền bù, vân vân. Mặc dù những người dân các làng đều phản đối tới các công ty và cơ quan nhà nước về những thiệt hại do các địa điểm xây dựng gây ra, như nơi chứa cặn thải, như nước thải, như tiếng ồn và độ rung, song chẳng hề có giải pháp cơ bản nào dã được thực thi.
Các công ty cũng không chi trả lương cho công nhân xây dựng vì “thiếu tiền”. Nhiều người trong số công nhân đó là những công nhân di cư từ các vùng xa xôi hẻo lánh tới, rất nhiều người trong số đó về nghỉ Tết xong thì không quay lại làm việc nữa, vì tình trạng công việc cũng bấp bênh. Chẳng ai tin việc chính quyền nói rằng sự phát triển mang lại công ăn việc làm và những cơ hội được đào tạo nghề nghiệp cho cộng đồng và đóng góp vào việc tăng trưởng nền kinh tế địa phương. Bộ Công Thương là cơ quan kiểm chứng dự án nhấn mạnh rằng họ “tôn trọng phong tục tập quán của dân bản địa”, nhưng sự thật thì rành rành là khác hẳn.
Trong khi nhà máy tinh luyện alumina ở Lâm Đồng được giả định sẽ bắt đầu sản xuất vào năm 2010, thì kế hoạch xây dựng ban đầu đã bị đẩy lui đến hai năm. Đã hai lần ra quyết định lùi thời hạn đưa nhà máy tinh luyện đó vào sản xuất.
Theo lời giải thích của cơ quan quản lý dự án, những lý do chậm trễ là do các yêu cầu kỹ thuật phức tạp để sản xuất alumina, có những “sai sót” ở vài giai đoạn của quy trình khiến cho công việc sản xuất không ổn định và cũng còn do sự chậm chạp trong việc thu đất. Cũng đã có kế hoạch mở rộng cảng Kê Gà ở tỉnh Bình Thuận để chuyên chở alumina, thế nhưng công việc xây dựng đã không tiến triển cả năm năm sau khi chính phủ ký giấy phép vào năm 2007, và tháng Hai vừa rồi, cuối cùng thì dự án cũng đã chấm dứt. Cũng không có tiến bộ gì trong việc mở rộng các con đường và gia cố cầu nối nhà máy tinh luyện với cảng. Dự án rõ ràng là đã thất bại, song có một điều vẫn còn không rõ ràng, ấy là ai chịu trách nhiệm về chuyện đó.
Có nhiều lời chỉ trích về sự thất bại của nhiếu dự án lớn khác nhau, như dự án phát triển bô xit, như tình trạng tham nhũng ở những doanh nghiệp nhà nước. Tình hình đã ép chính phủ phải lên tiếng trả lời, cho nên vào tháng Ba, đã có cuộc họp để “các bộ trưởng trả lời dân”. Khi được hỏi về sự phát triển kế hoạch  bô xit bị kéo lê thê, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng đã nói rằng lý do thất bại là vì đây là “lần đầu thử nghiệm ở Việt Nam”, và Việt Nam “không có kinh nghiệm gì trong việc quản lý vốn quá to tát đến thế” (hàng chục tỷ đô-la) và dự án “đòi hỏi những yêu cầu kỹ thuật phức tạp”. Tình trạng với chuyện nhà máy điện hạt nhân cũng tương tự.
Đầu năm nay, tôi tổ chức một cuộc hội thảo ở Hà Nội về sự phát triển nguồn lực và chính sách môi trường, với sự trợ giúp của Bộ Công Thương Việt Nam và các đại học, viện nghiên cứu của Nhật Bản. Thế nhưng Bộ Công Thương từ chối thẳng thừng việc đưa vấn đề phát triển bô xit vào chương trình nghị sự và sẽ không cho phép những chuyên gia và trí thức nào có phê phán dự án được tham dự hội thảo. Thậm chí bộ này còn không chấp nhận sự tham gia của Bộ Tài nguyên  và Môi trường của Việt Nam, là cơ quan có nhiệm vụ xử lý các vấn đề môi trường. Tôi muốn tạo cơ hội cho những người thúc đẩy dự án và những người phê phán dự án có điều kiện ngồi với nhau và tham gia thảo luận  cởi mở, thế nhưng ngay từ giai đoạn chuẩn bị hội thảo thì các ý định của chúng tôi đều bị phá.

PHE CHỐNG LẠI VIỆC XÂY NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN VÀ NHỮNG CUỘC BẮT BỚ VÔ PHÁP LUẬT
Những nhà trí thức Việt Nam tiếp tục chống lại việc phát triển bô xit cũng chia sẻ thông tin về những tai nạn tại nhà máy Chernobyl và nhà máy điện hạt nhân Fukushima số 1, và đều lên tiếng chống lại các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân mà Nga và Nhật Bản đang thực hiện tại tỉnh Ninh Thuận. Nhưng các gương mặt chính đều đang bị cơ quan An ninh của Việt Nam theo dõi giám sát, rồi bị bắt bớ vô luật pháp và bị lục soát nhà ở.
Cái xu thế mạnh mẽ ở các quốc gia trên thế giới là tìm cách thực hiện việc kiểm soát mạnh mẽ việc giải quyết các vấn đề liên quan đến các tài nguyên chủ yếu và các dự án phát triển năng lượng. Điều này có nghĩa là đặt chính phủ và các công ty, các cư dân địa phương và các cộng đồng dân thiểu số cũng như các chuyên gia và trí thức, các công dân và các tổ chức phi chính phủ, các tổ chúc quốc tế trên cùng một địa vị ngang bằng như nhau. Thế nhưng chính phủ Việt Nam tuy vẫn nói là đi theo một chính sách ngoại giao “tham gia tích cực vào cộng đồng quốc tế”, song thực tế thì đã đi theo hướng ngược hẳn lại. Trong hơn hai chục năm tôi làm nhà quan sát đất nước này, tôi thấy chính phủ Việt Nam bao giờ cũng tìm cách che giấu những sự thật họ không muốn phô ra, và điều này cơ bản không hề thay đổi. Việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân, cùng với một bầu không khí chính trị không đủ công khai cởi mở và sự xóa bỏ tự do ngôn luận, tất cả  sẽ gây nên những vấn đề nghiêm trọng trước khi thu được những kết quả về công nghệ và kinh tế. Nhật Bản cần hiểu rõ tình hình Việt Nam và do đó hãy xem xét lại cách thức hợp tác với một đối tác như thế.
A.N.

Phạm Toàn dịch


Copy từ: Bauxite Việt Nam

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2013

LỜI CUỐI CHO BAUXITE TÂY NGUYÊN



Tô Văn Trường

Công trường khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Files photos
Công trường khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Files photos
Tôi đã tự nhủ trong suốt thời gian qua, mình đã viết hơn chục bài về dự án bauxite Tây Nguyên là quá đủ rồi nhưng nay được nghe ông Trần Xuân Hòa Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục thực hiện dự án nhà máy Alumin Nhân Cơ và chỉ trong vòng 2 tháng nữa sẽ thấy tương lai của bauxite, đành phải gác tất cả công việc lại để viết bài “Lời cuối cho bauxite Tây Nguyên”!
Kiểm nghiệm các tuyên bố có cánh của lãnh đạo TKV
Tuyên bố của ông Trần Xuân Hòa không có gì lạ, nó chỉ là sự tiếp nối hùng hồn khẳng định trước đây của các vị tiền nhiệm ở TKV và người trong cuộc. Chính vì các tuyên bố này mà lãnh đạo Đảng và Nhà nước càng tin tưởng để cho làm dự án thí điểm bất chấp lời khuyên can của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng ngàn ý kiến phản biện của người dân và các nhà khoa học. 
Ông Đoàn Văn Kiển - Bí thư đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị TKV (Ủy viên dự khuyết BCHTU khóa IX) đã báo cáo bằng văn bản tại hội nghị của Ban tuyên huấn TW ngày 25/12/2008 tại Thành phố HCM, nguyên văn như sau (về hiệu quả của dự án bô xít): 
Mặt khác, ý nghĩa đóng góp phát triển kinh tế xã hội địa phương vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ là rất lớn vì với tổng doanh thu do xuất khẩu Alumina từ 2 nhà máy Nhân Cơ và Tân Rai trừ năm 2011 ước đạt 300 triệu USD/năm và tham gia đóng góp ngân sách địa phương (các khoản thuế) là khoảng 10-15% doanh thu để phát triển kinh tế xã hội, thì thực sự Tập đoàn đã góp phần phát triển Tây Nguyên giầu mạnh“. 
Ông Đặng Đức Yến - Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông trong bài báo “Giải pháp cho bô xít Tây Nguyên” của tác giả Phan Anh đăng mục Kinh tế-Xã hội đã khẳng định: “Nếu dự án alumina này vào, tính từ các khoản thuế, phí bảo vệ môi trường… sẽ đóng góp cho tỉnh khoảng 1600 tỷ đồng và đến năm 2011 thì có thể đạt hơn 2000 tỷ đồng“  
Trong thực tế, TKV lẫn lộn, không phân biệt nổi hiệu quả kinh tế-tài chính (là của doanh nghiệp), hiệu quả kinh tế-xã hội (của xã hội). Các nước gần đây còn chú trọng đến hiệu quả kinh tế-môi trường là những khái niệm không thể lập lờ. Đến hôm nay, TKV công khai “lờ” đi cái khoản thu to nhất của ngân sách là thuế xuất khẩu!? 
Lập luận của ông Trần Xuân Hòa về thuế xuất khẩu không chuẩn, cần phải chỉnh. TS Nguyễn Thành Sơn đã chỉ ra rất chính xác về thuế xuất khẩu của Quốc hội ban hành từ năm 2008 (trước khi TKV làm alumina), nên chỉ có danh điểm “quặng nhôm” (chứa Al2O3). TKV cũng hiểu alumina (cũng đều chứa Al2O3) cũng là “quặng nhôm”, như vậy là chính xác về mặt khoa học. Chính vì vậy, trước đây, như báo chí đã đưa tin Phó TGĐ của TKV là ông Nguyễn Văn Biên khẳng định phải xin giảm thuế xuất khẩu alumina từ 20% xuống 5% hoặc = 0% thì có lãi. Gần đây, tại cuộc họp báo, người phát ngôn của TKV cũng khẳng định với các nhà báo là trước mắt doanh nghiệp khó khăn nên nhà nước hỗ trợ bằng cách cho thuế xuất khẩu = 0%, sau này kinh tế hồi phục TKV sẽ nộp bình thường. Như vậy, bản thân TKV cũng thấy mặt hàng “alumina” được hiểu là “quặng nhôm” không thể không đóng thuế xuất khẩu như ngụy biện của ông Hòa. 
Nhân việc TKV cứ “quanh co” và “mập mờ”, để đảm bảo lợi ích của người đóng thuế, cần có kiến nghị rõ với Quốc hội bổ sung vào biểu thuế xuất khẩu danh điểm “Alumina” và xác định cụ thể thuế suất cho alumina còn đang thiếu. Còn mức thuế suất là bao nhiêu % là do Quốc hội quy định chứ không thể áp thuế suất của nước ngoài (Brazin, hay Ấn Độ) cho ViệtNam. Về cái gọi là “chế biến sâu” của TKV: Alumina có hàm lượng Al2O3 cao thì gọi là được chế biến sâu cũng đúng, nhưng, alumina của Tân Rai và Nhân Cơ có đặc điểm là do công nghệ lạc hậu, giải pháp công nghệ ấu trĩ, đòi hỏi tiêu hao nhiều than (0,679 tấn than cho 1 tấn alumina). Không ai khuyến khích “chế biến sâu” để xuất khẩu như kiểu của TKV cả. Vì, đối với alumina của TKV, xuất khẩu alumina cũng là xuất khẩu than (cái mà chúng ta còn đang thiếu).  
Không thể chịu trách nhiệm chính trị trên tiền thuế của dân 
Ông Trần Xuân Hòa cho rằng dự án bauxite không việc gì phải xin ý kiến của Quốc hội vì đó là thẩm quyền của Chính phủ. Người dân thừa hiểu đó là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước thì việc chia nhỏ dự án, mang danh thí điểm, “lách luật” cũng không có gì lạ! Đừng quên rằng dù chất lượng đại biểu Quốc hội còn hạn chế vì “Đảng cử-Dân bầu” nhưng không ít người có lòng tự trọng, biết lắng nghe ý kiến của Dân, điển hình như Quốc hội khóa trước đã từng bỏ phiếu bác bỏ dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam.   
Muốn sòng phẳng, công khai minh bạch thì TKV phải tìm nguồn vốn bổ sung cho nguồn vốn tự có. Về cơ bản có hai cách bổ sung đi vay và huy động vốn góp, trong đó có góp vồn theo phương thức góp vốn cổ phần, gắn với hình thành và phát triển thị trường sơ cấp trên thị trường chứng khoán. Cần phải tính toán hiệu quả của phương án sử dụng vốn đầu tư. Trong lĩnh vực này, luôn phải có tối thiểu hai phương án thực hiện mục tiêu để lựa chọn phương án có hiệu quả nhất. Việc đưa ra hai phương án kết nối Tân Rai-Nhân Cơ với cảng biển bằng đường bộ hay đường sắt là sự thể hiện vấn đề này. Do đó, để làm cho ngân sách nhà nước, cũng như vốn đầu tư của các chủ đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có thể là nằm ở việc lập một hay nhiều phương án đầu tư để thực hiện mục tiêu đề ra? Thủ trưởng, người có quyền quyết định chủ trương đầu tư là người đòi hỏi bộ máy giúp việc phải lập và tính toán chính xác phương án đầu tư và hiệu quả của vốn đầu tư, trình Thủ trưởng phê duyệt hay lại xẩy ra tình trạng Thủ trưởng là người quyết định chủ trương đầu tư một cách chủ quan, duy ý chí, … để rồi bắt buộc bộ máy giúp việc phải lập phương án đầu tư để thực hiện chủ trương của Thủ trưởng chứ không phải là để đạt hiệu quả kinh tế cao.   
Thông thường để ngân sách được sạch sẽ thì phải có phương án gây vốn. Vốn phải dựa vào bán trái phiếu doanh nghiệp  (enterprise bonds) cho dân chúng, thông qua 1 công ty đánh giá tài chính. Muốn bán được thì phải có đánh giá khả năng hoàn vốn và trả lãi + vốn. Người mua như thế thấy rõ được rủi ro của loại bonds này mà quyết định mua hay không mua. Nguyên tắc là nếu doanh nghiệp quốc doanh trên lỗ thì người mua bonds có thể mất vốn. Theo cách làm trên, nếu thị trường đánh giá là đầu tư trên không thể có lời thì tất nhiên không bán được trái phiếu, và do đó không thể xây dựng doanh nghiệp. Cách làm này là cách làm của các doanh nghiệp gọi là phi lợi nhuận (hay tự quản) ở Mỹ và nhiều nước. Doanh nghiệp có thể làm lời nhưng lời phải tái đầu tư chứ không thể đem chia cho cổ phần vì không có cổ phần viên. Chỉ có cách làm này mới tránh được cái gọi là doanh nghiệp quốc doanh mà ngân sách phải chịu trách nhiệm bù lỗ. 
Ở Mỹ và các nước tiên tiến, người ta rất xa lạ với vốn cổ phần công ty nhà nước, nói chung là xa lạ với công ty quốc doanh. Công ty tự quản phi lợi nhuận, dịch từ chữ (non-profit organization). Nếu là tư nhân thì thường với mục đích từ thiện hay văn hóa, như lập nhà thương, bảo tàng. Nếu là nhà nước thì với mục đích phục vụ xã hội và nền kinh tế nói chung. Ở Mỹ không có ý niệm công ty quốc doanh, mà chỉ có công ty phi lợi nhuận nhà nước tự quản. Thí dụ như Tennesse Valley Authority nhằm cung cấp điện cho khu vựcTennesse,New Yorkand New Jersey Port Authority nhằm quản lý các phi trường và hải cảng và chuyên chở trong khu vực nằm giữa hai bang NY-NJ. Đây là công ty nhà nước địa phương nhưng tự quản. Trong các công ty tự quản, hội đồng quản trị do nhà nước hai bang chỉ định theo nhiệm kỳ, nhưng giám đốc điều hành do hội đồng quản trị thuê. Lợi nhuận công ty tự quản tùy mục đích có thể được miễn thuế. Công cụ để gây vốn là bán trái phiếu dài hạn (bonds) ít nhất là 10 năm trở lên. Các công ty tự quản nhà nước dựa vào vốn bán trái phiếu, mà không dựa vào thuế hay vốn vay ngân hàng. Không dựa vào vốn vay ngân hàng vì hai lý do: bấp bênh lãi suất và qua hình thức trái phiếu, Chính phủ có thể miễn thuế đối với lãi trái phiếu, do đó khuyến khích dân chúng mua.  Việc gây vốn qua trái phiếu cũng chính là cách làm cho dân chúng gắn bó với các đầu tư trên vì chính họ bị ảnh hưởng nếu như doanh nghiệp thua lỗ mất khả năng trả lãi/vốn trái phiếu.  
Phản biện cho TKV khó như giảng toán lớp 10 cho học sinh lớp 3 
Có chuyên gia nhận xét quan trọng đối với Tây Nguyên (trong đó có bauxite) là hạ tầng phải đi trước một bước như Bộ Chính trị đã yêu cầu trong Thông báo 245. Trong hạ tầng (giao thông vận tải, điện, nước), nếu có nhiều tiền cũng chỉ phát triển được giao thông vận tải, còn điện (thủy điện) và nước thì không thể. Muốn giải quyết triệt để, và khi nay đã có tiền làm đường sắt, thì bauxite chắc chắn phải là theo lời dạy của COMECON (SEV) trước kia là đưa các nhà máy alumina xuống bờ biển. Như vậy kiểu gì cũng nên đóng cửa ngay Nhân Cơ để chờ cơ hội. Phản biện bây giờ khó thật nhất là nói với TKV cũng khó giống như giảng toán lớp 10 cho học sinh lớp 3. 
Từ tháng 2/1010 đến 3/2013, tức là chỉ sau có 25 tháng, tổng mức đầu tư của dự án Nhân Cơ đã tăng từ 11.365 tỷ (lấy chẵn) lên 14.889 tỷ, tức là, bình quân mỗi tháng tăng lên thêm 140,9 tỷ đ/tháng. Tốc độ tăng tổng mức đầu tư là 1,3%/tháng. (Con số tương tự của Tân Rai có khá hơn, chỉ tăng 93,5 tỷ đồng/tháng). Như vậy, cứ cái “đà” này, với cung cách quản lý dự án như ở Nhân Cơ, kiểu gì cũng tăng, càng kéo dài càng tăng, càng nhanh chóng dừng sớm Nhân Cơ thì mỗi tháng còn đỡ thiệt hại thêm 140,9 tỷ đồng vốn đầu tư. 
Về thải “ướt” và “khô”: Bùn đỏ của Tân Rai có 2 pha rắn và lỏng. Pha rắn chủ yếu gồm các chất ô xít kim loại, pha lỏng là chất xút NaOH độc hại nguy hiểm. Nếu tỷ lệ 2 pha rắn/lỏng là 50/50 thì TKV gọi là gì (“khô” hay “ướt”) cũng được (không ai thèm chấp). Nhưng nếu pha rắn chỉ có 46,5% thì đó là “ướt” vì pha lỏng (NaOH) chiếm hơn 50% trong chất thải ra. Cái “công nghệ” như TKV nói, chính là công nghệ thải “ướt”. Tất nhiên, do chất xút vừa độc hại cho người ngoài, nhưng cũng rất đắt đối với chủ đầu tư (khoảng 14 triệu đồng/tấn) nên phải thu hồi lại. Chỉ có điều khác nhau: “khô”- thu hồi ngay tối đa trong dây chuyền nhà máy, còn “ướt” cứ thải ra ngoài, chờ một thời gian để 2 pha rắn và lỏng tách nhau ra rồi sẽ thu về tái sử dụng (giống hệt như ở Hungary). 
Chất lượng alumina: Alumina của TKV có tên gọi chung là Cancined Alumina. Nhưng nếu căn cứ theo thành phần hóa học và vật lý thì khách hàng Marubeni gọi alumina của TKV thuộc dạng “Coarse Alumina” hay (Sandy Type). Cũng giống như đường ăn, ta thường gọi loại đường tốt là “đường trắng”, còn loại chất lượng thấp hơn là “đường cát” vì mầu giống như cát. Trong Alumina người ta cũng dùng khái niệm “cát” (sỏi) là “Sandy Type” để gọi alumina của TKV.
Cũng giống như bùn đỏ có chứa hơn 50% chất xút nhưng TKV vẫn gọi là “khô”, TKV có gọi alumina của mình là “vàng” hay “bạch kim” cũng được, nhưng trong kỹ thuật thì phải rõ ràng theo các con số, và trong thương mại quốc tế cũng chẳng lừa được ai. 
TKV phải tính lại bài toán kinh tế   
Tạm gác các vấn đề còn nhiều bất cập của dự án bauxite về tác động xấu đến môi trường, ý nghĩa chính trị an ninh quốc phòng, theo tôi hiểu chỉ riêng về bài toán kinh tế TKV phải tính lại theo phương pháp luận và cách tiếp cận cụ thể dưới đây: 
I. Cách tính lợi nhuận theo kế toán doanh nghiệp 
A. Giá thành f.ob. (có thể tính cho toàn bộ sản lượng nhà máy rồi tính cho 1 tấn aluminia)
DIỄN GIẢI
= Giá quặng bauxit dùng để sản xuất ra alumina
Chính là resource rent mà VN trong trường hợp tài nguyên do nhà nước sở hữu được gọi là thuế tài nguyên. Đây là chi phí mà công ty khai thác phải trả để sử dụng tài nguyên. Nó được định nghĩa là thu nhập (thí dụ một tấn alumina) trừ đi tổng chi phí sản xuất cộng thêm lợi nhuận trung bình cho số vốn bỏ ra để sản xuất ra nó.

Thí dụ giá 1 con tôm hùm là $5.00, chi phí sản xuất (lao động và vật chất) cộng với chi phí vốn bỏ ra và lợi nhuận trung bình là $3.00, thì resource rent là $2.00.
Việc tính này là điều bình thường cần tính khi một quốc gia thương lượng để đi đến ký kết hợp đồng khai thác dầu thô. Điển hình nhất là khi một bên bỏ 100% vốn khai thác và điều hành khai thác. Bên có sở hữu nguồn dầu thô được phân chia một tỷ lệ dầu thô nhất định sau khi bơm dầu lên. Cơ sở để tính toán là phân chia thu nhập thuần thu được từ dầu thô (tức là giá dầu thô trên thị trường trừ đi chi phí khai thác).
Giá của quặng này có thể tính dựa vào các hợp đồng đã đạt được giữa các nhà khai thác tài nguyên bauxit trả cho chính phủ các nước trên thế giới.  Giá này phải cần đến chuyên gia quốc tế đã làm việc trong ngành.
+ Chi phí về hàng hóa và dịch vụ để sản xuất ra alumina Gồm tất cả chi phí về hàng hóa và dịch vụ dùng để sản xuất ra 1 tấn alumina. Hàng hóa dịch vụ ở đây bao gồm toàn bộ chi phí về: Điện, nước, than, chi phí bảo quản  và các chi phí quản lý khác
+ Chi phí bảo vệ/hoàn nguyên môi trường  
+ Chi phí về lao động Công trả cho lao động kể cả lao động quản lý
+ Chi phí trả lãi  
+ Thuế sản xuất nếu có (thuế đăng ký doanh nghiệp, thuế sản phẩm, thuế đất)  
+ Chi phí khấu hao tài sản nhà xưởng và máy móc  
+ Chi phí chuyên chở ra cảng kể cả bốc dỡ đưa hàng lên tầu  
+ Thuế xuất khẩu  
B Giá bán được trên thị trường f.o.b. Đây là giá mà người mua sẵn sàng trả sau khi hàng được đưa lên tàu. Chi phí về chuyên chở khỏi cảng + bảo hiểm là trách nhiệm của người mua.
C Thu nhập thuần theo giá hiện tại  (net present value)  
= B-A  

C gọi là thu nhập thuần chính là lợi nhuận theo cách tính của doanh nghiệp.
Tỷ lệ lợi nhuận = C/vốn tự có. Vốn tự có = giá trị tài sản – giá trị vốn vay.
II.  Cách tính hiệu quả trong đánh giá dự án
Để tính tổng thu nhập thuần (net present value) của cả dự án thì phải tính. Trong trường hợp có C0 thì Ci sẽ lớn hơn vì giá thành không cần tính khấu hao (tức là khấu hao vốn đầu tư ban đầu C0).  Nếu tính như ở phần I thì  C0 = 0.
Thời kỳ 0 1 2           T
  - C0 C1 C2           CT


C0 = vốn đầu tư (gồm cả vốn tự có và vốn vay).
Ci = thu nhập thuần thời kỳ i, tính theo giá giá trị của thời kỳ hiện tại tức là thời điểm 1.  Nếu chúng được tính theo giá của thời kỳ i thì phải đưa về giá hiện tại, tức là trừ khử đi lạm phát. Khi giá bán trong hợp đồng dài hạn cố định thì rõ ràng là giá trị hiện tại của giá bán đó sẽ nhỏ đi. Nếu 100 là giá trị nhận được trong năm thứ 5 mà lạm phát p là 3% mỗi năm thì giá trị 100 đó chỉ có giá trị trong hiện tại bằng =   = 88.4. Kể từ năm 2001 đến nay lạm phát trung bình ở Mỹ là khoảng 2.5%.   Có lẽ có thể lấy tốc độ lạm phát này để tính (khi tính bằng USD).
r  là suất chiết khấu thực (sau khi trừ lạm phát) thường là tính giống nhau cho từng thời kỳ. Suất chiết khấu hoàn toàn khác chỉ số tăng giá (hay lạm phát). Thí dụ trong 5 năm nữa, chúng ta được trả giá là 100 và với lạm phát 2.5% năm thì giá trị hiện tại là 88.4 như đã nói ở trên. Tuy nhiên như thế phải 5 năm nữa chúng ta mới nhận được 88.4. Như thế nếu muốn nhận ngay vào thời kỳ 1 thì phải chiết khấu 88.4 và như thế chỉ được giá trị là  =76.2. Thường suất chiết khấu thực được dùng là 3%.
Có hai cách tính hiệu quả của dự án:
1) Với công thức ở trên, NPV là thu nhập thuần thu được của dự án nếu như trong năm năm, mỗi năm nhận được Ci (đã đưa về giá hiện tại).  Cách tính này thường giả định suất chiết khấu thật r = 0.03. Dự án chỉ nên làm nếu như NPV dương. Có nghĩa là nếu âm thì sẽ không lấy lại được vốn.
2) Tính suất hoàn vốn nội tại, tức là tính ra r, khi cho NPV = 0. Nếu r nhỏ hơn lãi suất thực (tức là khử lạm phát) trên thị trường thì không nên đầu tư. Cách tính này có thể so sánh tỷ suất hoàn vốn với lãi suất thực trên thị trường.
Lãi suất thực (real rate) =
(1 + lãi suất danh nghĩa (nominal rate) / (1 + lạm phát) – 1

= (1 + 6%) / (1 + 4%) – 1  = 1.9%

ở đây, lãi suất danh nghĩa là 6%, lạm phát là 4%.
Nếu có hơn 1 phương án thì chọn phương án có tỷ lệ hoàn vốn cao hơn hoặc NPV lớn hơn.
Xử lý vấn đề lạm phát:
NPV là giá trị theo giá hiện tại.
  • Có thể tính C theo giá thu được tại thời điểm thu tương lai và như thế suất chiết khấu là suất chiết khấu danh nghĩa.
  • Cũng có thể đưa C về giá hiện tại, khi đó suất chiết khấu phải tính theo lãi suất thực.
Có lạm phát = 4%. Tiền vào ra theo giá thời điểm chi/thu. Suất chiết khấu danh nghĩa = 6%. NPV tính bằng suất chiết khấu danh nghĩa.
  0 1 2 3 4 Tổng
Tiền vào 0 624 648.96 674.9184 701.9151  
Tiền ra 1500 104 108.16 112.4864 116.9859  
Tiền vào thuần -1500 520 540.8 562.432 584.9293  
NPV -1500 490.566 481.3101 472.2288 463.3188 407.4236

  Không lạm phát (hay là mọi chi phí đưa về giá hiện tại, suất chiết khấu thật = 1.019231)
  0 1 2 3 4 Tổng
Tiền vào   600 600 600 600  
Tiền ra 1500 100 100 100 100  
Tiền vào thuần -1500 500 500 500 500  
             
NPV -1500 490.566 481.3101 472.2288 463.3188 407.4236
Thay cho lời kết 
Dự án bauxite Tây Nguyên ngày càng được thực tế chứng minh là chủ trương sai của Đảng và Nhà nước. Nếu ngay từ đầu, giá như người ta biết lắng nghe ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phản biện xã hội coi bauxite như của để dành cho thế hệ con cháu chờ 25-30 năm sau khi khoa học công nghệ phát triển, đất nước đủ tiềm lực mới khai thác. Lịch sử không có 2 từ giá như. Chính TKV cũng không thể trốn tránh trách nhiệm “bóc ngắn-cắn dài” đã góp phần làm tan hoang mảnh đất nghèo khó hình chữ S thân yêu của chúng ta. 
T.V.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho  Bauxite Việt Nam