Bản dịch của Huỳnh Thục Vy (
Defend the Defenders)
ĐẠO LUẬT NHÂN QUYỀN VIỆT NAM năm 2013 – HR 1897.
Quốc hội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thứ 113
Phiên họp thứ nhất
H. R. 1897: Nhằm thúc đẩy Tự do và Dân chủ ở Việt Nam
Tại Hạ viện Hoa Kỳ
Ngày 8 tháng 5 năm 2013
Ngài SMITH của tiểu bang New Jersey (đại diện cho
chính mình, cho ngài ROYCE, ngài WOLF, bà LOFGREN và ngài LOWENTHAL)
giới thiệu đạo luật sau đây, đạo luật đã được đệ trình lên Ủy ban Ngoại
giao Hạ viện Hoa Kỳ.
DỰ LUẬT
Nhằm thúc đẩy Tự do và Dân chủ tại Việt Nam.
Nếu được thông qua bởi Thượng viện và Hạ viện Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trong thời gian Quốc hội nhóm họp,
PHẦN 1. TIỀU ĐỀ NGẮN. BẢNG NỘI DUNG.
(a) Tiêu đề ngắn – Đạo luật này được gọi là “
Đạo luật Nhân quyền Việt Nam năm 2013”
(b) Bảng nội dung – Bảng nội dung của Đạo luật như sau:
Phần 1. Tiêu đề ngắn; Bảng nội dung.
Phần 2. Các dữ kiện và mục đích.
Phần 3. Cấm chỉ gia tăng trợ giúp phi nhân đạo cho Chính quyền Việt Nam.
Phần 4. Ngành ngoại giao Hoa Kỳ
Phần 5. Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc
Phần 6. Báo cáo hằng năm
PHẦN 2. CÁC DỮ KIỆN VÀ MỤC ĐÍCH
(a) Những dữ kiện – Quốc hội thu thập được những dữ kiện sau:
(1) Mối quan hệ giữa Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Cộng hòa XHCN Việt
Nam đã phát triển vững chắc từ sau khi Lệnh cấm vận thương mại chấm dứt
năm 1994, với mức trao đổi mậu dịch hằng năm giữa hai nước lên đến gần
25 tỷ trong năm 2012.
(2) Quá trình chuyển đổi của Chính phủ Việt Nam hướng tới nền
thương mại và tự do kinh tế hơn đã không song hành với cởi mởi tự do
chính trị và những cải thiện thực chất về các Nhân quyền cơ bản cho
người dân Việt Nam, bao gồm Tự do tôn giáo, bày tỏ quan điểm, lập hội và
hội họp.
(3) Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận để Việt Nam trở thành thành viên
chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới vào năm 2006, với niềm tin
rằng chính quyền Việt Nam lúc đó đang dần cải thiện hồ sơ Nhân quyền và
sẽ tiếp tục như thế.
(4) Việt Nam vẫn duy trì một Nhà nước độc đảng, nằm dưới sự cầm
quyền và kiểm soát của đảng Cộng sản Việt Nam, đảng này vẫn tiếp tục
chối bỏ quyền thay đổi chính quyền của người dân.
(5) Mặc dù trong những năm gần đây, Quốc hội Việt Nam đã đóng vai
trò ngày càng tích cực như là một diễn đàn để làm nổi bật những quan
ngại ở địa phương, vấn đề tham nhũng, và sự cầm quyền không hiệu quả,
Quốc hội vẫn chịu sự chỉ đạo của đảng Cộng sản và đảng Cộng sản vẫn duy
trì quyền kiểm soát việc chọn lựa các ứng cử viên Quốc hội trong các
cuộc bầu cử quốc gia và địa phương.
(6) Chính quyền Việt Nam ngăn cấm mọi chất vấn của người dân đối
với tính chính đáng của Nhà nước độc đảng, kiềm hãm quyền Tự do bày tỏ
quan điểm, báo chí, lập hội và thắt chặt việc tiếp cận internet và các
phương tiện viễn thông.
(7) Từ khi Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 11 tháng 1 năm 2007,
chính quyền Việt Nam đã tùy tiện bắt bớ và giam giữ nhiều cá nhân vì họ
đấu tranh ôn hòa cho Tự do tôn giáo, Dân chủ và Nhân quyền, bao gồm cha
Nguyễn Văn Lý, các luật sư Nhân quyền
Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, và
Lê Công Định, và các bloggers
Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và
Lê Văn Sơn.
(8) Chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục cầm giữ, bỏ tù, quản thúc tại
gia, buộc tội, hoặc nếu không thì ngăn chặn họ không được bày tỏ quan
điểm tôn giáo và chính trị đối lập một cách ôn hòa.
(9) Chính quyền Việt Nam tiếp tục giam giữ những người lãnh đạo
giới công nhân lao động và giới hạn quyền thành lập các tổ chức độc lập.
(10) Chính quyền Việt Nam tiếp tục giới hạn quyền Tự do tôn giáo,
kiềm chế hoạt động của các tổ chức tôn giáo độc lập, và sách nhiễu các
tín đồ nào có các hoạt động tôn giáo bị chính quyền coi là mối đe dọa
tiềm tàng cho vị trí độc tôn quyền lực của họ.
(11) Mặc dù những tiến bộ đã được báo cáo trong việc thành lập
nhà thờ và việc đăng ký hợp pháp các địa điểm hội họp tôn giáo, chính
quyền Việt Nam đã ngăn tất cả các hành động tích cực nhất kể từ khi Bộ
ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách “quốc gia cần đặc biệt
quan tâm” (CPC) vào tháng 11 năm 2006.
(12) Các hội thánh Tin lành sắc tộc thiểu số không được đăng ký,
đặc biệt là những người Thượng ở Cao nguyên Trung phần và Tây Bắc phải
chịu những hành động chà đạp khắt nghiệt của chính quyền Việt Nam, bao
gồm việc bị cưỡng bách từ bỏ niềm tin, bị bắt giữ, bị sách nhiễu, bị từ
chối các chương trình xã hội vốn dĩ cấp cho toàn dân, bị tịch thu và hủy
hoại tài sản, bị đánh đập tàn nhẫn và chết theo như báo cáo.
(13) Nhà cầm quyền đã có những phản ứng bạo lực đối với những buổi
thức trắng cầu nguyện và những cuộc biểu tình ôn hòa của giáo dân Công
giáo đòi chính quyền trả lại những tài sản của giáo hội đã bị chính
quyền tịch thu. Những người biểu tình đã bị sách nhiễu, đánh đập, giam
giữ và tài sản của Giáo hội đã bị hủy hoại. Những người Công giáo cũng
tiếp tục đối mặt với tình trạng giới hạn trong việc lựa chọn chức sắc,
giới hạn việc thành lập các chủng viện và lựa chọn chủng sinh, và nhiều
trường hợp cá nhân bị giới hạn quyền đi lại và đăng ký thành lập Nhà
thờ.
(14) Vào tháng 5 năm 2010, làng Cồn Dầu, một giáo xứ ở thành
phố Đà Nẵng, đã đối mặt với tình trạng bạo lực leo thang trong một đám
tang khi công an cố gắng ngăn cấm một lễ mai táng theo nghi thức tôn
giáo ở nghĩa trang của làng; hơn 100 dân làng đã bị thương, 62 người bị
bắt giữ, 5 người bị đánh đạp và có ít nhất 3 người chết.
(15) Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (UBCV) bị ngược
đãi vì chính quyền Việt Nam tiếp tục giới hạn những liên hệ và vận động
của chức sắc tăng ni của Giáo hội vì họ từ chối việc hợp nhất với Giáo
hội quốc doanh, chính quyền giới hạn việc bày tỏ quan điểm và hội họp,
và chính quyền cũng tiếp tục sách nhiễu và đe dọa tăng ni cùng chức sắc
trẻ.
(16) Chính quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp những sinh hoạt của
các tín đồ tôn giáo khác, gồm Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo, thông qua
việc sử dụng các biện pháp giam giữ, bỏ tù và giám sát nghiêm ngặt,
những tín đồ này ở trong tình trạng thiếu sự công nhận chính thức hoặc
đã chọn cách liên kết với các nhóm tôn giáo khác bị chính quyền chế tài.
(17) Nhiều người Thượng và những người thuộc các sắc tộc khác
vẫn đang chịu những án tù dài hạn vì liên quan đến những cuộc biểu tình
ôn hòa năm 2001, 2002, 2004 và 2008. Những người Thượng vẫn tiếp tục đối
mặt với việc bị đe dọa, giam giữ, đánh đập, ép buộc bỏ đạo, hủy hoại
tài sản, giới hạn hoạt động và chết như trong báo cáo, trong tay các
giới chức chính quyền.
(18) Người H-mông thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, Cao nguyên Tây
bắc, và Cao nguyên Trung phần của Việt Nam cũng bị kiềm chế, tịch thu
tài sản, chà đạp, và ngược đãi bởi chính quyền Việt Nam.
(19) Chính quyền Việt Nam giới hạn việc bày tỏ quan điểm, hội
họp, lập hội của người Khmer Krom, chính quyền đã tịch thu gần như tất
cả các chùa chiền Phật giáo Nam tông, kiểm soát tất cả các tổ chức Phật
giáo của người Khmer Krom và cấm chỉ hầu hết các cuộc biểu tình phản đối
ôn hòa.
(20) Chính quyền Việt Nam kiểm soát gần như tất cả các phương
tiện truyền thông điện tử và báo giấy, bao gồm kiểm soát việc tiếp cận
mạng Internet, làm nhiễu sóng của một số đài phát thanh nước ngoài,
trong đó có đài Á châu Tự do, và đã giam giữ cũng như bỏ tù những cá
nhân đăng tải, xuất bản, gởi hoặc phổ biến các tài liệu liên quan đến
Dân chủ.
(21) Những người bị bắt ở Việt Nam vì hoạt động và gia nhập các
tổ chức chính trị – tôn giáo, thường không nhận được thủ tục pháp lý
thích hợp vì họ khó có thể tiếp cận với luật sư theo sự lựa chọn của
mình, phải trải qua những phiên tòa đóng kín, thường bị giam giữ nhiều
năm mà không được xét xử, và bị hành hạ để phải nhận những tội mà họ
không phạm hoặc là phải tố cáo những người lãnh đạo tổ chức họ.
(22) Việt Nam tiếp tục là nước cung cấp hoạt động kinh doanh
tình dục và cưỡng bách lao động đối với phụ nữ và các cô gái, cũng là
nước xuất khẩu lao động trong đó đàn ông và phụ nữ tham gia một cách hợp
pháp vào những hợp đồng lao động quốc tế nhưng sau đó họ phải đối mặt
với tình trạng bị ràng buộc bởi nợ nần hoặc cưỡng bách lao động, và là
điểm đến của nạn buôn bán trẻ em và tiếp tục xảy ra tình nạn buôn người.
(23) Có nhiều báo cáo về việc các quan chức Việt Nam và cấp
dưới của họ tham gia, tạo điều kiện, bỏ qua hoặc đồng lõa với các hình
thức buôn người nghiêm trọng.
(24) Các chương trình tái định cư người tỵ nạn của Hoa Kỳ, bao
gồm Chương trình Tái định cư Nhân đạo (HR), Chương trình ra đi trật tự
(ODP), Chương trình Cơ hội tái đinh cư cho người Việt hồi hương, việc
tái định cư thông thường dành cho các thuyền nhân từ các trại tỵ nạn
khắp Đông Nam Á, Đạo luật đón người Mỹ gốc Á về Mỹ năm 1988, và Hạng
mục tái định cư người tỵ nạn Ưu tiên 1, đã giúp cứu vớt những người dân
Việt Nam đã bị ngược đãi vì cộng tác với Hoa Kỳ, hoặc, trong nhiều
trường hợp, vì vợ chồng, cha mẹ, người thân của họ có cộng tác, cũng như
những người Việt Nam bị ngược đãi vì sắc tộc, tôn giáo, quốc tịch, quan
điểm chính trị, hoặc vì là thành viên của các tổ chức xã hội cá biệt.
(25) Trong khi những chương trình trước đây đã hoàn thành mục
đích, một số lớn người tỵ nạn Việt Nam đã bị từ chối hoặc loại bỏ một
cách bất công, bao gồm người Mỹ gốc Á, trong vài trường hợp là vì các
giới chức Việt Nam – những người có trách nhiệm kiểm soát việc tiếp cận
các chương trình này – tham nhũng hoặc thù hận, và trong những trường
hợp khác là vì nhân sự phía Hoa Kỳ đã áp đặt những cách giải thích thu
hẹp quá mức về tiêu chuẩn của chương trình. Thêm vào đó, chính quyền
Việt Nam đã từ chối cấp hộ chiếu cho những người mà phía Hoa Kỳ đã chấp
nhận là đủ tiêu chuẩn để nhận được quy chế tỵ nạn.
(26) Chính quyền Việt Nam, như trong báo cáo, đang giam giữ
hàng ngàn người, trong đó có một số người mới 12 tuổi, trong các trung
tâm cai nghiện của nhà nước và đối xử với họ như nô lệ lao động.
(27) Trong năm 2012, hơn 150.000 người đã ký vào một thỉnh
nguyện thư kêu gọi chính quyền Hoa Kỳ không mở rộng với mậu dịch với
nước Việt Nam cộng sản với cái giá phải trả là tình trạng đàn áp nhân
quyền.
(28) Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua nhiều nghị quyết lên án tình
trạng chà đạp nhân quyền ở Việt Nam, cho thấy rằng mặc dù có sự mở rộng
quan hệ ngoại giao với chính quyền Việt Nam, nhưng không nên hiểu điều
đó như là sự chấp thuận cho tình trạng vi phạm các nhân quyền căn bản
nghiêm trọng và vẫn đang tiếp diễn ở Việt Nam.
(b) MỤC ĐÍCH- Mục đích của Đạo luật này là nhằm thúc đẩy sự phát triển Tự do và Dân chủ ở Việt Nam.
PHẦN 3.
NGĂN CẤM TĂNG THÊM CÁC VIỆN TRỢ PHI NHÂN ĐẠO CHO CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM.
(a) VIỆN TRỢ -
(1) TỔNG QUAN – Trừ những trường hợp đã đưa ra ở khoản (b), Chính
quyền Liên bang sẽ không đưa ra bất cứ viện trợ phi nhân đạo nào cho
chính quyền Việt Nam trong suốt năm tài chính với tổng số vượt quá số
lượng viện trợ như thế đã được đưa ra cho năm tài chính 2012, trừ khi:
(A) liên quan đến những giới hạn cho năm tài chính 2014, Tổng thống
quyết định và xác nhận với Quốc Hội rằng, không quá 30 ngày sau ngày
ban hành đạo luật này, những quy định từ điểm (A) tới điểm (G) trong
điều (2) phải được đáp ứng trong suốt thời gian 12 tháng kết thúc vào
ngày phê chuẩn; và
(B) liên quan đến giới hạn cho những năm tài chính tiếp theo, Tổng
thống quyết định và xác nhận với Quốc Hội, trong bản báo cáo hằng năm
gần nhất được đệ trình lên theo phần 6, rằng những quy định từ điểm (A)
đến điểm (G) của điều (2) phải được đáp ứng trong suốt thời gian 12
tháng được tường trình bởi bản báo cáo.
(2) NHỮNG QUY ĐỊNH– Những quy định trong điều như sau:
(A) Chính quyền Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc phóng
thích tất cả các tù nhân chính trị và tôn giáo, tình trạng quản thúc
tại gia, và các hình thức cầm giữ khác.
(B) Chính quyền Việt Nam đã có những tiến bộ thực chất trong việc -
(i) Tôn trọng quyền tự do tôn giáo, bao gồm quyền tham gia vào
các định chế và sinh hoạt tôn giáo mà không bị cản trở, sách nhiễu, hoặc
can thiệp bởi chính quyền, dành cho tất cả các cộng đồng tôn giáo khác
nhau của Việt Nam; và
(ii) Trả lại đất đai và tài sản đã tịch thu của các giáo hội và cộng đồng tôn giáo.
(C) Chính quyền Việt Nam đã có những tiến bộ thực chất trong việc
tôn trọng quyền tự do bày tỏ quan điểm, hội họp và lập hội, bao gồm việc
trả tự do cho các nhà báo và blogger độc lập và các nhà hoạt động vì
dân chủ và giới lao động.
(D) Chính quyền Việt Nam đã có những tiến bộ thực chất trong việc bãi
bỏ hoặc xem xét lại các điều luật hình sự hóa các hoạt động bất đồng
chính kiến ôn hòa, truyền thông độc lập, hoạt động tôn giáo không được
cấp phép, và các cuộc tập hợp và biểu tình bất bạo động, theo các tiêu
chuẩn và công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên tham gia.
(E) Chính quyền Việt Nam đã đạt được những tiến bộ thực chất trong
việc cho phép người dân Việt Nam được tự do tiếp cận với các chương
trình tỵ nạn của Hoa Kỳ.
(F) Chính quyền Việt Nam đã đạt được những tiến bộ thực chất trong
việc tôn trọng nhân quyền của những người thuộc các nhóm sắc dân thiểu
số.
(G) Không một quan chức chính quyền Việt Nam lẫn các cơ quan và thực
thể nào do chính quyền Việt Nam sỡ hữu toàn bộ hoặc một phần được đồng
lõa vào những hình thức buôn người nghiêm trọng, hoặc Chính quyền Việt
Nam đã tiến hành những bước thích hợp để chấm dứt những sự đồng lõa như
thế và buộc các quan chức, cơ quan hoặc thực thể đó phải hoàn toàn chịu
trách nhiệm giải trình cho những hành xử của họ.
(b) NHỮNG NGOẠI LỆ -
(1) VIỆC TIẾP TỤC CÁC KHOẢN VIỆN TRỢ VÌ QUYỀN LỢI QUỐC GIA HOA KỲ-
Không chấp nhận việc Chính quyền Việt Nam không đáp ứng được những quy
định ở khoản (a)(2), Tổng thống có thể bãi bỏ việc áp dụng khoản (a)
trong năm tài chính nếu -
(A) Tổng thống xác định rằng việc cấp cho chính quyền Việt Nam những
khoản viện trợ phi nhân đạo ngày càng gia tăng sẽ thăng tiến mục đích
của Đạo luật này hoặc nếu không thì vì quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ; và
(B) Chính quyền Liên bang đưa ra những khoản viện trợ, ở mức độ
tương thích với, hoặc vượt quá, bất cứ sự gia tăng viện trợ phi nhân đạo
cho Việt Nam, đều hỗ trợ cho việc-
(i) huấn luyện cho chính quyền Việt Nam về bổn phận tôn trọng các
quyền được liệt kê trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị;
(ii) lập chương trình mang tính pháp quyền phi thương mại; và
(iii) áp dụng biện pháp khắc phục tình trạng chính quyền Việt Nam phá sóng của Đài Á châu tự do.
(2) THỰC HIỆN THẨM QUYỀN KHƯỚC TỪ- Tổng thống có thể thực hiện thẩm quyền này theo điều (1) liên quan đến–
(A) Tất cả những khoản viện trợ phi nhân đạo của Hoa Kỳ cho Việt Nam; hoặc
(B) Một hoặc nhiều chương trình, dự án, hoặc hoạt động viện trợ như thế.
(c) CÁC ĐỊNH NGHĨA- Trong phần này:
(1) VIỆN TRỢ PHI NHÂN ĐẠO – Từ “viện trợ phi nhân đạo” có nghĩa là -
(A) Bất cứ khoản viện trợ nào theo Đạo luật Viện trợ nước ngoài năm
1961 (bao gồm các chương trình theo mục IV, chương 2, phần I của Đạo
luật đó, liên quan đến Hợp tác đầu tư tư nhân hải ngoại), ngoại trừ -
(i) Viện trợ để khắc phục thảm họa, bao gồm bất cứ khoản viện trợ nào theo chương 9, phần I của Đạo luật đó;
(ii) Viện trợ liên quan đến việc cung cấp lương thực (bao gồm việc quy đổi lương thực thành tiền) hoặc dược phẩm;
(iii) Viện trợ để khắc phục vấn đề môi trường ở những khu vực nhiễm
Dioxin và những khoản viện trợ liên quan đến hoạt động y tế;
(iv) Viện trợ để đối phó với các hình thức buôn người nghiêm trọng;
(v) Viện trợ để đối phó với bệnh dịch;
(vi) Viện trợ cho người tỵ nạn; và
(vii) Viện trợ để đối phó với bệnh HIV/AIDS, bao gồm bất cứ khoản viện trợ nào theo phần 104A của Đạo luật đó; và
(B) Việc buôn bán, hoặc cấp vốn trong bất cứ điều kiện nào theo Đạo luật kiểm soát xuất khẩu vũ khí.
(2) HÌNH THỨC BUÔN NGƯỜI NGHIÊM TRỌNG- Từ “hình thức buôn người
nghiêm trọng” có nghĩa là bất cứ hoạt động nào được mô tả trong phần
103(8) của Đạo luật bảo vệ nạn nhân buôn người năm 2000 (Luật công
106-386 (114 Stat. 1470); 22 U.S. C. 7102 (8)).
(d) THỜI HIỆU- Phần này sẽ có hiệu lực vào ngày ban hành đạo luật
này và sẽ áp dụng cho việc cung cấp các khoản viện trợ phi nhân đạo cho
chính quyền Việt Nam trong năm tài chính 2014 và những năm tài chính sau
đó.
PHẦN 4. NGOẠI GIAO NHÂN DÂN CỦA HOA KỲ.
(a) VIỆC PHÁT THANH CỦA ĐÀI Á CHÂU TỰ DO VỀ VIỆT NAM – Nhận thức
của Quốc hội là Hoa Kỳ sẽ thực hiện những biện pháp khắc phục việc chính
quyền Việt Nam phá sóng đài Á châu tự do và Broadcasting Board of
Governors
[ND: BBG là cơ quan truyền thông độc lập được bảo trợ bởi chính phủ Hoa Kỳ] không
nên cắt giảm nhân viên, tài chính, hoặc giờ phát thanh của Ban Việt ngữ
của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ và Đài Á châu Tự do, những biện pháp này sẽ
được thực hiện hơn là giảm hoạt động của các Ban phát thanh ngoại ngữ
khác.
(b) NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH GIAO LƯU VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC CỦA HOA KỲ VỚI
VIỆT NAM – Nhận thức của Quốc hội là bất cứ chương trình giao lưu văn
hóa và giáo dục nào giữa Hoa Kỳ và Việt Nam nên tích cực thúc đẩy tiến
những tiến bộ hướng tới tự do và dân chủ ở Việt Nam bằng cách cung cấp
những cơ hội đa dạng cho người dân Việt Nam, từ cơ hội nghề nghiệp cho
tới triển vọng được nhìn thấy tự do và dân chủ được thực thi và, cũng
bằng cách đảm bảo rằng những công dân Việt Nam, đã biểu hiện cam kết của
họ đối với những giá trị này, sẽ được bao gồm trong những chương trình
như thế.
(c)
HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC – Nhận thức của Quốc hội là
Ngoại trưởng Hoa Kỳ sẽ phản đối mạnh mẽ, và khuyến khích những thành
viên khác của Liên Hợp quốc phản đối, việc ứng cử làm thành viên của
Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc trong nhiệm kỳ bắt đầu
vào năm 2014.
PHẦN 5. TỰ DO TÔN GIÁO VÀ NẠN BUÔN NGƯỜI.
(a) Quốc gia cần đặc biệt quan tâm – Nhận thức của Quốc hội là nên
đưa VN vào danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm về Tự do tôn
giáo theo phần 402(b) của Đạo luật Tự do tôn giáo quốc tế năm 1998 (22
U.S.C. 6442(b)).
(b) Tiêu chuẩn tối thiểu cho việc loại trừ nạn buôn người – Nhận
thức của Quốc hội là Chính quyền Việt Nam không tuân thủ đầy đủ các tiêu
chuẩn tối thiểu trong việc loại trừ nạn buôn người và không có những nỗ
lực nghiêm túc để tuân thủ, và sự xác quyết này sẽ được phản ánh trong
bản báo cáo hằng năm trình lên Quốc hội theo quy định của phần 110(b)
trong Đạo luật bảo vệ nạn nhân buôn người năm 2000 (22 U.S.C. 7107(b)).
PHẦN 6. BÁO CÁO HẰNG NĂM.
(a) TỔNG QUAN – Không quá 6 tháng sau ngày ban hành Đạo luật này
và mỗi 12 tháng sau đó, Ngoại trưởng Hoa Kỳ sẽ đệ trình lên Quốc hội một
bản báo cáo về những việc sau:
(1) Việc xác định và phê chuẩn của Tổng thống rằng những quy định
từ điểm (A) đến điểm (G) của phần 3 (a)(2) đã được đáp ứng, nếu có thể
áp dụng.
(2) Nếu Tổng thống bãi bỏ việc áp dụng phần 3(a) theo phần 3(b) trong suốt thời gian báo cáo -
(A) Việc bãi bỏ dựa trên nền tảng lợi ích quốc gia Hoa Kỳ ;
(B) Số lượng viện trợ phi nhân đạo được cấp cho chính quyền Việt Nam; và
(C) Mô tả loại viện trợ và số lượng các khoản viện trợ tương xứng được cấp theo phần 3(b)(1)(B).
(3) Những nỗ lực của chính phủ Hoa Kỳ nhằm đẩy mạnh việc tiếp cận
của người dân Việt Nam đối với các chương trình phát thanh của đài Á
châu Tự do.
(4) Những nỗ lực nhằm đảm bảo rằng các chương trình như thế do
chính phủ Hoa Kỳ thực hiện cùng với Việt Nam sẽ thúc đẩy chính sách được
đề xuất trong phần 102 của Đạo luật chu cấp về Nhân quyền, người tỵ
nạn, và các chính sách nước ngoài khác năm 1996 liên quan đến việc tham
gia vào các chương trình giao lưu văn hóa và giáo dục.
(5) Danh sách những người được tin là đang ở tù, bị giam cầm, hoặc
bị quản thúc tại gia, bị hành hạ, hoặc nếu không, thì bị ngược đãi bởi
chính quyền Việt Nam vì họ theo đuổi các Nhân quyền được quốc tế công
nhận. Trong quá trình thu thập những danh sách như thế, Ngoại trưởng
Hoa Kỳ sẽ có những cứu xét thích hợp, bao gồm việc lưu tâm đến sự an
toàn và tình trạng an ninh, và phúc lợi của những người được đưa vào
danh sách cũng như gia đình họ. Thêm vào đó, Ngoại trưởng sẽ lập một
danh sách các cá nhân như thế và gia đình họ, những người này có thể đủ
tiêu chuẩn ra đi dưới các chương trình tỵ nạn của Hoa Kỳ.
(6) Mô tả sự tiến triển của pháp quyền ở Việt Nam, bao gồm -
(A) Nhưng tiến bộ hướng đến việc phát triển các định chế quản trị dân chủ;
(B) Tiến trình mà các điều luật, quy định, nguyên tắc và các hành vi
pháp lý khác của chính quyền Việt Nam phát triển và trở nên có tính
ràng buộc ở Việt Nam;
(C) Mức độ mà các điều luật, quy định, nguyên tắc, các quyết định tư
pháp và hành chính, và các hành vi pháp lý khác của Chính quyền Việt
Nam được ban hành và có thể tiếp cận đối với công chúng;
(D) Mức độ mà các quyết định tư pháp và hành chính phù hợp với văn
bản lý giải dựa trên những điều luật, quy định, nguyên tắc đã được lập
thành văn bản và các hành xử pháp lý khác của Chính quyền Việt Nam;
(E) Mức độ các cá nhân được đối xử công bằng theo luật pháp Việt Nam
không phân biệt tư cách công dân, sắc tộc, tôc giáo, quan điểm chính
trị, hoặc việc tham gia tổ chức hiện tại hoặc trước đây;
(F) Mức độ các quyết định tư pháp và hành chính được độc lập khỏi
những áp lực chính trị hoặc sự can thiệp của chính quyền và được xem xét
lại thông qua các cơ quan có thẩm quyền phúc thẩm; và
(G) Mức độ luật pháp Việt Nam được soạn thảo và thực hiện bằng những
phương cách phù hợp nhất quán với các tiêu chuẩn Nhân quyền quốc tế, bao
gồm các quyền được liệt kê trong Công ước quốc tế về các quyền Dân sự
và Chính trị.
(b) LIÊN HỆ VỚI CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ KHÁC – Trong quá trình chuẩn bị
báo cáo theo khoản (a), Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bằng những cách thích hợp,
sẽ tìm cách liên hệ và giữ liên lạc với các tổ chức phi chính phủ và
những nhà đấu tranh cho Nhân quyền (gồm có những người Mỹ gốc Việt và
nhà đấu tranh cho Nhân quyền ở Việt Nam), bao gồm việc nhận báo cáo và
những thông tin cập nhật từ các tổ chức như thế và đánh giá những bản
báo cáo đó. Ngoại trưởng Hoa Kỳ cũng sẽ tìm cách hội ý với Ủy ban Tự do
tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ trong những phần thích hợp của bản báo cáo.
Nguồn: GPO
Defend the Defenders
Copy từ:
Ba Sàm
.........................................