CHƯA TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐỜI.

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

Dùng vũ lực để khuất phục luôn đồng nghĩa với sự bất lực về nhân tâm.


Nguyễn Phương Uyên
Nguyễn Phương Uyên
 
Lần đầu tiên tôi biết về nhà tù cộng sản là qua cuốn “Đêm giữa ban ngày”. Khi đó tôi cũng đã 50 tuổi, và người khuyên tôi tìm đọc chính là sếp cao nhất của cơ quan tôi. Ông nói đọc để biết sự tàn ác của cộng sản, mặc dù ông cũng là cộng sản, là bí thư đảng ủy cơ quan. Một sự thức tỉnh quá muộn mằn.
Quá nửa cuộc đời trở về trước, tôi chỉ được đọc về chuyện người cộng sản bị cầm tù trong nhà tù “Mỹ, Ngụy”, chứ chưa bao giờ biết chuyện người cộng sản bị cầm tù trong nhà tù cộng sản nó như thế nào. Chỉ chừng đó những điều trong “Đêm giữa ban ngày”, cũng đủ để làm đổ vỡ chút lòng tin mù quáng còn sót lại trong tôi. Thực không thể tưởng tượng nổi rằng người lương thiện cũng có thể bị tống vào tù, bởi những người từng được coi là anh em, đồng chí với mình. Sau này, tôi lại được biết thêm còn nhiều người cũng bị đối xử tàn tệ như cha con cụ Vũ Đình Huỳnh. Với anh em, đồng chí của họ còn bị như thế, thì số phận tù binh hoặc những người “tù cải tạo” hẳn kinh khủng hơn rất nhiều.

Tôi tin rằng, cho dù pháp luật nước ta có kém văn minh đến đâu, chắc chắn cũng không có điều luật nào cho phép đánh đập, bỏ đói, hay nhục mạ tù nhân. Nhưng thực tế cho thấy trong nhiều nhà tù ở Việt Nam (nếu không muốn nói là hầu hết), những người được cho là đại diện pháp luật đã lạm dụng quyền lực của họ để thỏa mãn một sở thích bệnh hoạn, hay chỉ là một sự trả thù vô cớ khi đày đọa thể xác và tinh thần của người bị giam cầm. Trong tù, dường như tù nhân không chỉ mất quyền công dân, mà còn mất cả quyền con người.
Tôi không tin tất cả bọn họ toàn những kẻ độc ác, vô tri vô giác, chỉ biết tuân lệnh cấp trên như một cái máy. Tôi tin trong tâm thức họ, vẫn có người phân biệt được chuyện đúng sai, tốt xấu. Tiếc rằng lòng tốt trong họ chưa đủ mạnh để chiến thắng sự vô cảm và sự yếu hèn của bản thân.
Từ khi Nguyễn Phương Uyên bị bắt giam, tôi đã hình dung những gì sẽ đến với cô gái tuổi đôi mươi này. Tôi không sợ lắm cho tâm hồn non nớt và ngây thơ của cô gái, sẽ bị tổn thương trong môi trường nghiệt ngã của nhà tù. Nhưng xót thương là bản năng của con người. Đất nước đâu phải thời chiến mà cần giam cầm, đày dọa những chàng trai, cô gái còn đang tuổi ăn học, tuổi yêu thương? Việc họ giam Phương Uyên cùng với tù thường phạm, muốn mượn tay giang hồ để đánh đập cô học trò nhỏ thì ai cũng ngầm hiểu, đó là trò ném đá giấu tay của quản giáo. Tin Phương Uyên bị đánh đập trong tù không những không làm cho người ta run sợ, mà chỉ càng chuốc thêm sự căm phẫn và khinh bỉ đối với chế độ.
Dùng vũ lực để khuất phục kẻ khác luôn đồng nghĩa với sự bất lực về nhân tâm. Tôi chắc rằng nếu tất cả mọi người dân Việt Nam dám nói thật chính kiến của mình, đất nước này sẽ không xây đủ nhà tù để giam giữ những người bất đồng chính kiến.

Nhiều năm trước, khi thế giới còn mông muội, một lần, một người da trắng chuyên săn da đầu người da đỏ bị chính người da đỏ bắt. Họ đã làm điều mà ông ta thường làm trước đó - nghĩa là lột da đâu ông ta. 
Khi những người da trắng khác tìm thấy ông, đang hấp hối trong một bộ dạng rất kinh khủng. Ông ta đã thều thào nói với họ, rằng đừng bao giờ lột da đầu một người khi họ còn sống, vì điều đó thực sự rất khủng khiếp.

Vậy mới nói, nếu không muốn bị đau, thì đừng làm đau người khác!

Không muốn bị cầm tù, thì đừng giam cầm người khác!

Nguyễn Phương Uyên
Nguyễn Phương Uyên


Copy từ: Phương Bích

30/4 LẠI ĐẾN RỒI, CON ƠI MAU VỀ ĐI KẺO MUỘN!



Lời Tác Giả: Nhân mừng thọ tuổi 70 của tôi lại vào dịp nghỉ 30/4, các con tôi đã quyết định cho bố một chuyến đi dối già vào Sài Gòn và Miền Tây Nam Bộ. Tình cờ, tại vùng sông nước cuối cùng của Tổ Quốc, tôi đã được đến thăm nhà má Năm ngay gần bờ sông. Rồi má đã kể cho chúng tôi nghe những tháng năm trước 30/4/1975, ba má đã cưu mang cán bộ và bộ đội như thế nào. Má còn kể về một đứa con nuôi của má nay đang “làm vua” ở Hà Nội, đứa mà ngày xưa má đã suýt chết vì che dấu nó dưới hầm bí mật ra sao. Trời ơi, má Năm nay đã ngoài 90 mà vẫn còn minh mẫn lắm. Má cười, ba má chỉ tội nghèo nhưng nhờ sống thoải mái nên giữ được sức khỏe. Câu chuyện về đứa con nuôi “làm vua” của má nghe thật lạ! Má vừa kể vừa lau nước mắt hình như sau 38 năm biền biệt xa đứa con mà nay má vẫn thương yêu và lo cho tính mạng của nó như hồi còn trong Bưng vậy. Má nói, tình hình này thể nào cũng sẽ có một cuộc 30/4 nữa! Má sợ lúc đó ba má sẽ không còn đủ sức để cưu mang được nó. Rồi bỗng má thở dài: “Ôi sao nó không về trước đi! Cứ dại dột ngồi mãi đó lại như cái ông “Ca” gì đó ở bên Li-bi thì khổ!” Tôi chưa kịp hỏi họ tên đứa con nuôi “làm vua” của má là gì thì đã phải lên ca nô để đi sang vùng khác. Bài viết này chỉ ghi lại những lời thương của má để nhắn nhủ đứa con nuôi một thời ba má đã yêu thương như con ruột, xin được trân trọng sẻ chia cùng quí vị.
30/4 lại đến rồi, con ơi mau về đi kẻo muộn!
(Viết theo lời thương của hai vợ chồng bà má Nam Bộ)
Từ ngày 30/4/1975 con chào ba má về thành phố
Ba mươi tám năm trôi qua ba vẫn sống kiếp cơ hàn
Các em con lớn lên nay vẫn chưa có việc làm ổn định
Má che chở con ngày xưa giờ vẫn sống lầm than!
Hồi trong Cứ con thưa, rồi má ba sẽ thay đời đổi kiếp
Độc lập rồi dân sẽ ấm no hơn, cuộc sống sẽ dễ dàng hơn!
Vậy mà nay các đồng chí của con đang làm dân chết khiếp
Khắp nơi nơi đâu cũng thấy người dân đang phỉ nhổ căm hờn!
Ngày còn ở trong Bưng má thấy con hiền lành như thế
Mỗi lần về làng gặp du kích con thỏ thẻ với má ba
“Con đi chiến đấu quên thân để cứu dân cứu nước
“Đưa lại Độc Lập, Tự Do cho tổ quốc, quê nhà!”
Nay Độc Lập có rồi nhưng Tự Do đâu chưa thấy
Chỉ thấy ai nói hơi trái ý con là con bắt nhốt tù rồi
Người dân muốn nói thật để cho đất nước mau tiến tới
Vì họ đã từng đổ máu xương để giờ con hưởng đó con ơi!
Má biết con đã sớm phải vô Bưng nên học hành lởm khởm
Lẽ ra nay làm vua, con phải biết khiêm tốn lắng nghe dân
Dân thật thà góp ý giúp con thì con kêu “bầy phản động”
Còn mấy đứa nịnh hót tâng bốc thì con lại chơi thân
Sao dưới triều đại con, người có tài thì con không trọng dụng?
Chỉ bổ nhiệm một lũ cúi luồn bằng cấp có, kiến thức không
Làm đất nước lộn tùng phèo người mù lại đi dắt người sáng
Người tâm huyết tài năng lại phải về cày ruộng nuôi tôm!
Mà nuôi tôm, các đồng chí của con cũng không cho yên sống
Anh em Đoàn Văn Vươn hai mươi năm trời đã lấn biển quai đê
Xây đầm nuôi tôm bằng chính sức mình làm giàu cho đất nước[1]
Các bạn con lại dùng bộ đội công an định cưỡng cướp mang về!
Má ba chưa thấy lịch sử nước nhà có thời đại nào như thế
Mồm “lấy dân làm gốc” tay lại cướp bóc và đàn áp dân lành
Chuyện ba ngàn công an đánh một ngàn nông dân năm ngoái[2]
Cướp đất Văn Giang xây “thiên đường” là một “trang sử liệt oanh”
Dân đóng thuế được bao nhiêu thì bọn nịnh thần vơ vét hết
Rồi cố tình đẻ thêm ra chước quỷ mưu ma để trấn lột tiền dân
Hết bày đặt nào thuế xăng xe, thuế đường bộ, thuế ô tô xe máy...
Bệnh viện nằm bốn người một giường cũng phải nộp thuế thân!
Ba má muốn gặp tận mặt con để nói cho con nghe sự thật
Nhưng từ ngày con làm quan rồi làm vua đâu ló mặt về thôn
Má ba đã ngoại cửu tuần rồi không thể ra thăm con được nữa
Sợ ít nữa dân phẫn uất lên, má ba không còn cơ hội để cứu con!
Ba ruột con danh tính là gì và ở đâu má ba không được biết
Chỉ thấy má đẻ con một mình lam lũ nuôi con nên má ba thương
Có phải “ông ấy” nhận ra con không mà nâng con lên nhanh thế?
Làm vua mà không được học hành sao con có thể đảm đương?
Ba má đã sống hơn nửa đời người trước 30 tháng Tư nên hiểu
Thời trước người ta biết trọng nhân tài nên xã hội văn minh
Người giàu biết thương yêu người nghèo, tạo việc làm cho họ
Chứ không như bọn tư bản đỏ bây giờ làm dân ghét, dân kinh
Thời trước Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa là của ta tất cả
Ngư dân ta đánh cá ngoài khơi có ai dám trấn giết cướp tàu
Thời nay ngày nào Hán tặc cũng bắn giết ngư dân trên biển
Mà ba má đã bao giờ được nghe con lên tiếng cứu dân đâu?
Má ba cùng đồng bào đã 20 năm cưu mang con trong lửa đạn
Hôm con chui xuống hầm cạnh bồn cầu, má cứ phải “ngồi” coi
Nếu không có nhân dân hi sinh thì 30/4 các con sao thắng được
Mà nay các đồng chí của con đối xử với dân tàn ác thế con ơi!
Năm thứ ba mươi tám 30/4 lại đến rồi, con ơi mau về đi kẻo muộn!
Má không còn sức “ngồi” bồn cầu để coi con chui xuống đó nữa đâu
Ngày nhân dân vùng lên lật đổ con nay chỉ là một chiều một sớm
Con về đi! Đừng như bố con Gaddafi bị dân cắt cổ, má ba đau!
Sài Gòn, 28/4/1013
Ts. Đặng Huy Văn
[1]- Ngày 5/1/2012, chính quyền huyện Tiên Lãng, Hải Phòng đã dùng hơn 100 công an và bộ đội có trang bị vũ khí đến đập phá nhà và định cướp trắng đầm tôm của gia đình anh em ông Đoàn Văn Vươn tại xã Vinh Quang, Tiên Lãng một cách trái pháp luật.
[2]- Ngày 24/4/2012, hơn ba ngàn công an và đầu gấu được UBND huyện Văn Giang, Hưng Yên thuê để đàn áp cuộc biểu tình của hơn một ngàn nông dân tại xã Xuân Quan, Văn Giang để giữ ruộng đất và mồ mả tổ tiên của bà con đang bị giải tỏa mặt bằng để xây dựng “Thiên đường Ecopark”của một chủ đầu tư giấu mặt. Cuộc biểu tình của bà con Văn Giang đã bị đàn áp dã man trong đó có rất nhiều người dân và hai phóng viên VOV đã bị đánh trọng thương.


Copy từ: Huy Văn

THƯ NGỎ TRÂN TRỌNG GỬI CÁC BẠN TRẺ VIỆT NAM VÀ HAI BẠN MỸ FRED, ROB



Cách đây 8 năm, nhân dịp báo Tuổi trẻ đăng nhật ký của bác sĩ liệt sĩ Đặng Thùy Trâm và thư của tiến sĩ cựu chiến binh Mỹ Fred ( người đã có công lưu giữ nhật ký Đặng Thùy Trâm) gửi các bạn trẻ Việt Nam, tôi đã viết bức thư ngỏ dưới đây nhờ báo Tuổi trẻ,Tiền phong, Thanh niên và các báo đăng nhưng không báo nào đăng, nay xin nhờ các trang mạng bốn phương công bố giùm, trân trọng cám ơn.
 BÙI MINH QUỐC
 .

THƯ NGỎ

TRÂN TRỌNG GỬI CÁC BẠN TRẺ VIỆT NAM

VÀ HAI BẠN MỸ FRED, ROB

( Nhờ các báo TUỔI TRẺ,TIỀN PHONG,THANH NIÊN và các báo đăng)
Các bạn quý mến,
          Tôi đã đọc với niềm xúc động sâu xa và nhiều nghĩ ngợi nhật ký của bác sĩ liệt sĩ Đặng Thùy Trâm và thư của tiến sĩ cựu chiến binh Mỹ Fred gửi các bạn trẻ Việt Nam đăng trên báo Tuổi Trẻ.
          Khi Thùy Trâm ngã xuống vì đạn Mỹ, tôi đang ở chiến trường Quảng  Nam, cách Quảng Ngãi không xa.Trước đó, đêm 8.3.1969, vợ tôi, nhà báo, nhà văn Dương Thị Xuân Quý ngã xuống vì một loạt đạn của lính Nam Triều Tiên khi từ dưới hầm bí mật bò lên tìm cách thoát ra khỏi vòng vây tại Duy Xuyên , Quảng Nam.Sau Đặng Thùy Trâm, chiều 1.5.1971, bạn tôi, nhà báo, nhà văn Chu Cẩm Phong trút hơi thở cuối cùng trong một cuộc chiến đấu quyết liệt từ dưới hầm bí mật để đáp lại lời gọi hàng của lực lượng đối phương đông gấp bội bao vây tấn công từ bên trên cũng tại Duy Xuyên, Quảng Nam.Giữa tháng 4.1975, tại Đà Nẵng, một sĩ quan quân đội Sài Gòn tìm gặp tôi và trao cho tôi cuốn nhật ký của Chu Cẩm Phong mà bạn tôi đem theo bên mình tưởng đã bị vĩnh viễn cuốn đi vô tăm tích trong bão lửa chiến tranh. Người sĩ quan cho tôi biết mới đầu anh đọc vì hiếu kỳ nhưng càng đọc anh càng cảm phục nhân cách của tác giả nên đã gìn giữ trân trọng suốt bốn năm bất chấp hiểm nguy, giống hệt trường hợp Fred đối với Đặng Thùy Trâm.(Nhật ký của Chu Cẩm Phong đã được nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 2000 với nhan đề Nhật ký chiến tranh” và nhà xuất bản Đà Nẵng tái bản năm 2005 trong Tuyển tập Chu Cẩm Phong).
          Thùy Trâm kém tôi hai tuổi, kém Xuân Quý, Chu Cẩm Phong một tuổi .Chúng tôi cùng một lứa được giáo dục đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa tại thủ đô Hà Nội và lên đường vào Nam chiến đấu theo tiếng gọi KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO.Nhật ký của Trâm, Quý, Phong đều ghi rõ tâm nguyện của mỗi người, mà cũng là của cả thế hệ chúng tôi, sẵn sàng dâng hiến, không chút tính toán so đo, từng ngày sống và cả cuộc đời cho độc lập, tự do.
          Độc lập cho dân tộc và tự do cho mỗi con người.
          Những giá trị thiêng liêng ấy đã được ghi rõ, có thể nói không phải bằng mực mà bằng máu, trong Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ từ 229 năm trước và của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà từ 60 năm trước.
          Không phải đến 2.9.1945 trong Tuyên ngôn độc lập, mà ngay từ 1942 trong Nhật ký trong tù, tư tuởng không có gì quý hơn độc lập tự do đã được chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định :
          Trên đời ngàn vạn điều cay đắng
          Cay đắng chi bằng mất tự do
          Mỗi việc mỗi lời không tự chủ
          Để cho người dắt tựa trâu bò.
          ( Thiết nghĩ bốn câu thơ trên cần được treo cùng chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh tại tất cả các hội nghị, đại hội Đảng và đoàn thể ở mọi cấp ).
 .
          Nhà văn Nguyên Ngọc, sau khi đọc nhật ký Đặng Thùy Trâm đã qua hình ảnh người con gái trí thức anh hùng này mà nghĩ về người trí thức, viết rằng người trí thức là người “vừa sống vừa luôn biết tự quan sát mình, quan sát sự sống cách sống của mình, luôn tự thẩm định mình, luôn tự đặt ra cho mình những câu hỏi về tư cách sống của chính mình”.Tôi hiểu, cái tư cách sống ấy của người trí thức, hay cái tiêu chí hàng đầu phải có để được coi là trí thức không phải là bằng cấp mà phải là bản lĩnh suy nghĩ độc lập, là cái năng lực biết gọi đúng tên sự vật, cái ý chí kiên quyết giành và giữ lấy quyền tự do nói lên công khai những hiểu biết của mình bất chấp mọi hiểm nguy.Như Ga-li-lê : “dù sao, nó ( trái đất ) vẫn quay”, dẫu cho Bru-nô bị lên giàn hỏa và Ga-li-lê bị lưu đày.Nói đến tư cách sống của người trí thức, không thể không nhắc lại ở đây lời của nhà văn cách mạng quá cố rất đáng kính Nguyễn Minh Châu : “Làm thằng nhà văn Việt Nam vào lúc này mà tìm cách lẩn tránh vấn đề dân chủ là thiếu tư cách”(Trích thư gửi nhà thơ Nguyễn Trung Thu, tháng 4.1988).
          Nhiều đồng đội của Fred, Rob cầm súng sang Việt Nam, họ được nghe bảo rằng hoặc thực sự nghĩ rằng họ đi chiến đấu để giúp nguời Việt Nam bảo vệ những giá trị đã được ghi trong Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ, nhưng rồi thực tế chiến tranh cho thấy họ đã đến để gián tiếp hoặc trực tiếp bắn vào những giá trị ấy đang được ấp ủ nâng niu trong tâm hồn những con người Việt Nam như Đặng Thùy Trâm.Chính sự mẫn cảm về những giá trị ấy trong nhật ký Đặng Thùy Trâm của thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu  đã giúp Fred trở thành người gìn giữ cho văn hoá Việt Nam một báu vật.Vô cùng cám ơn anh Nguyễn Trung Hiếu và các bạn Fred, Rob.Nhân đây, một lần nữa tôi xin gửi tới một ân nhân lớn, mà nhiều năm từ ngày gặp tôi không biết ở đâu, lời cám ơn chân thành, đó là anh Nguyễn Hiếu (hoặc Hoàng Đình Hiếu), người đã gìn giữ và trao cho tôi cuốn nhật ký của Chu Cẩm Phong.Nguyễn Trung Hiếu, Hoàng Đình Hiếu, Fred, Rob ơi, trong cuộc “châu về Hợp phố” này có một cái gì đó thật linh thiêng, cái linh thiêng nằm trong những giá trị tinh thần kết tinh từ bao đời được truyền toả qua hồn thiêng các chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập tự do mà tất cả các dân tộc, cả nhân loại và mỗi con người chúng ta đều tôn thờ.
          Tôi, người may mắn sống sót sau những hy sinh của Dương Thị Xuân Quý, Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Giá, Chu Cẩm Phong cùng hàng triệu đồng bào đồng chí của tôi, từ 1975 trở đi càng ngày càng thấy nhân dân tôi đã lâm vào một bi kịch thê thảm nhất, cay đắng nhất, quái gở nhất : vì độc lập tự do mà cuồng nhiệt tự nguyện dốc cả sông máu núi xương để rồi “tự do” tự nguyện choàng lên cổ mình một cái ách nô lệ “vàng son” mang tên là sự lãnh đạo của Đảng thực chất chỉ là sự cai trị độc đoán của hơn một trăm ủy viên trung ương thậm chí chủ yếu là mười mấy ủy viên bộ chính trị.
          Nô lệ đến mức người ta bảo bỏ phiếu cho ai là ngoan ngoãn bỏ cho người ấy, chẳng biết người ấy tốt xấu thế nào.
          Nô lệ đến mức muốn nói điều mình nghĩ, mình thấy, mình biết cũng  không báo nào đăng cho, cỡ như cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt trả lời phỏng vấn mà cũng không được đăng trọn vẹn.
          Nô lệ đến mức người ta áp đặt cái đường lối sai lầm dựa trên một kiểu lý luận nói lấy được (chữ dùng của tướng quân Trần Độ) là “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” cũng không biết mà cãi, hoặc biết mà không dám cãi, hoặc muốn cãi thì cũng không có diễn đàn mà cãi.
          Trong dịp đại hội lần thứ 7 vừa rồi của Hội nhà văn Việt Nam (tháng 4.2005), mấy đồng nghiệp của tôi – nhà thơ Xuân Sách, nhà thơ Trần Mạnh Hảo, nhà văn Hoàng Quốc Hải – phát biểu tại diễn đàn chỉ tha thiết xin nhà nước thành lập cơ quan kiểm duyệt chính thức, công khai, để nhà văn cứ viết hết cỡ theo lương tâm mình, còn nhà nước không vừa ý chỗ nào thì cứ cắt nhưng phải in rõ chấm chấm chấm kiểm duyệt bỏ chấm chấm chấm như thời chế độ thực dân.
          Ôi, đau đớn làm sao, nhục nhã làm sao ! Hỡi hồn thiêng các liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Văn Giá, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân , Trần Đăng, Thôi Hữu, Nam Cao, Trần Mai Ninh… và tất cả các liệt sĩ của tất cả các thế hệ đã ngã xuống vì độc lập tự do, hãy về đây mà chứng kiến cho nỗi nhục của chúng tôi ! Chẳng lẽ chiến đấu như thế hy sinh như thế để chuốc lấy nỗi nhục này ? Sau bao nhiêu năm chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do, nay chỉ xin cái mức tự do ngôn luận như thời thực dân mà cũng không được.Xưa là nô lệ cho ngoại bang, nay lại làm nô lệ cho một nhúm cầm quyền nhân danh Đảng.Nhục quá ! Nhục đến nỗi “đến bữa quên ăn nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa…”(con cúi xin Đức Thánh Trần cho con mượn lời này để bày tỏ nỗi lòng).Trong Bộ chính trị hiện nay có một ủy viên cùng lứa tuổi cùng chiến đấu trên một giải chiến trường ác liệt Khu Năm-Trị Thiên với Đặng Thùy Trâm, Dương Thị Xuân Quý, Chu Cẩm Phong, đó là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mà câu thơ của anh từng làm rung động bao trái tim Việt Nam thời ấy qua giai điệu Trần Hoàn “Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ…Mai sau con lớn làm người tự do”. Nhân đây tôi muốn gửi một lời nhắn hỏi : Nguyễn Khoa Điềm à, anh có chia sẻ nỗi nhục này của chúng tôi không ? Và nếu chia sẻ thì anh làm gì cho khỏi nhục ?
Một bạn trẻ thành đạt nào đó đã phát biểu trên báo Tuổi Trẻ : “Tài sản của tôi là nỗi nhục nghèo khổ” – ý nói từ chỗ thấy nhục vì nghèo khổ mà có chí vươn lên làm giàu.Tiến sĩ Fred , với thiện chí và thiện cảm chân thành đáng quý cũng nhắc bạn trẻ Việt Nam noi gương Đặng Thùy Trâm mà phấn đấu đưa đất nước sớm thoát khỏi nghèo khổ. Rất hoan nghênh. Nhưng tôi muốn nhắc : có một nỗi nhục còn lớn hơn nỗi nhục nghèo khổ là nỗi nhục nô lệ, nỗi nhục của kẻ “mỗi việc mỗi lời không tự chủ để cho người dắt tựa trâu bò”mà thậm nhục là gần ba triệu đảng viên, hơn tám mươi triệu dân lại đành nô lệ cho chỉ hơn một trăm ủy viên trung ương, mười mấy ủy viên bộ chính trị. Đặng Thùy Trâm cũng như mọi liệt sĩ Việt Nam hy sinh cho Tổ Quốc là một Tổ Quốc trên đó mỗi con người phải được làm người tự do, như lời thơ Nguyễn Khoa Điềm họ đã hát vang thời ấy.Tình trạng không có tự do dân chủ trên Tổ Quốc Việt Nam hôm nay đang từng ngày từng giờ xúc phạm dòng máu thiêng của các liệt sĩ.
Không cam chịu mãi tình trạng nhục nhã đau đớn ấy, tiếp nối sự dấn thân cao cả của những Đặng Thùy Trâm, Dương Thị Xuân Quý, Chu Cẩm Phong …, trong giới trẻ đã xuất hiện những chiến sĩ dấn thân cho tự do, họ không tiếc những vị trí làm việc ngon lành mà có lẽ không ít bạn trẻ đang mơ ước để quyết dấn thân và sẵn sàng chịu khổ nạn, các bạn ấy bị chụp những bản án vô căn cứ, bị tù đày chỉ vì đã viết và dịch các bài về dân chủ, viết đơn khiếu kiện giúp và viết bài bênh vực các bà mẹ Việt Nam anh hùng bị ức hiếp…
Thủ tướng Phan Văn Khải sau khi đọc nhật ký của hai liệt sĩ Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc, gửi thư cho toà soạn và bạn đọc báo Tuổi Trẻ nhấn mạnh: “Đưa đất nước tiến kịp thời đại với ý chí mãnh liệt như ý chí giành độc lập, thống nhất”.Tôi muốn góp thêm vào đây một ý này : đối với đất nước ta hiện nay, muốn tiến kịp thời đại,  trước hết là phải gấp rút thoát ra khỏi sự tụt hậu về chính trị.Hệ thống chính trị lạc hậu hiện nay là trở lực lớn nhất cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của đất nước.Sau cách mạng Tháng Tám, chúng ta đã xây dựng được một thể chế chính trị dân chủ tiến bộ nhất châu Á, nhưng phải tạm gác công việc hoàn thiện nền dân chủ ấy vì hai cuộc kháng chiến. Từ đấy dân chủ là một món nợ – món nợ xương máu – mà những người cách mạng chúng ta nợ nhân dân ta.Sau một thời gian dài bị gạt ra một cách khuất tất, dân chủ lại được đưa vào ghi thành mục tiêu xây dựng xã hội trong cương lĩnh của Đảng tại đại hội 9, song tiếc thay cái dân chủ ấy mới chỉ có trên mặt giấy. Rõ ràng trong bộ phận đảng viên cầm quyền đã có một thế lực cố ý vỗ nợ dân chủ, phản bội nhân dân, lừa dối nhân dân, miệng nói dân chủ mà tay thì nắm hết quyền vơ hết lợi của dân.Bọn vỗ nợ dân chủ với bọn tham nhũng là một.
Tôi tin rằng nếu nhân dân ta, nhất là giới trẻ, biết chuyển toàn bộ sức mạnh đã có trong công cuộc giành độc lập thống nhất sang công cuộc dân  chủ hoá đất nước thì chúng ta sẽ sớm đòi được món nợ dân chủ.
          Tôi tin rằng trong giới cầm quyền vẫn còn nhiều đồng chí tốt, nhiều đồng chí thuộc lớp trẻ, muốn sớm trả món nợ dân chủ cho nhân dân, nhưng lúng  túng giữa một mớ bùng nhùng các mối quan hệ quyền lực.Theo tôi, tháo gỡ cái bùng nhùng này cũng không đến nỗi khó, chỉ cần một thao tác đơn giản là lời nói đi đôi với việc làm, lời nói về dân chủ thì đã có nhiều rồi, hãy bắt tay vào làm, hàng loạt công việc cho dân chủ hoàn toàn có thể làm ngay hôm nay, ngay ngày mai, chẳng hạn hãy mở ngay một cuộc gặp mặt bàn tròn, một hội nghị Diên Hồng với nội dung  “Làm thế nào để chuyển sức mạnh dân tộc trong công cuộc giành độc lập thống nhất trước kia sang công cuộc dân chủ hoá đất nước hôm nay?” Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nói nhiều về dân chủ, đã dẫn lời chủ tịch Hồ Chí Minh “Dân chủ là cái chìa khoá vạn năng giải quyết mọi khó khăn”, chẳng lẽ ở cương vị của mình lại không sớm tổ chức được một hội nghị Diên Hồng như thế ? Hoặc là ngay từ ngày mai, tất cả các báo mỗi kỳ dành một trang cho diễn đàn dân chủ đăng tất cả mọi ý kiến khác nhau để tìm kế sách, biện pháp tối ưu nhằm đưa mục tiêu dân chủ từ nghị quyết vào cuộc sống, việc  này hoàn toàn có thể làm ngay chỉ cốt có thực tâm làm dân chủ, thực tâm tôn trọng nghị quyết do chính mình biểu quyết.
          Tôi cũng tin rằng giới trẻ đầy năng động cũng sẽ chẳng thụ động ngồi chờ ai đem dân chủ tự do đến cho mình, hoàn toàn có thể ngay hôm nay ngay ngày mai, bắt đầu bằng việc tự động ngồi lại với nhau làm một cuộc Diên Hồng Trẻ với nội dung như thế.
          Đất nước ta đã hàng nghìn năm dưới ách chuyên chế, chỉ đến cách mạng Tháng Tám 1945 mới chuyển sang kỷ nguyên dân chủ nhưng rồi bị đứt đoạn, sau ngày thống nhất tưởng rằng sẽ xây dựng được một chế độ dân chủ gấp triệu lần ai ngờ lại là một chế độ chuyên chế toàn trị độc đảng theo kiểu vừa xta-lin-nít vừa mao-ít được Việt Nam hoá.Tôi nghe thấy hồn thiêng sông núi, hồn thiêng các liệt sĩ đang thúc giục chúng ta : đây là thời điểm lịch sử, hãy cùng nhau chung sức chung lòng làm nhiệm vụ lịch sử, chuyển toàn bộ sức mạnh dân tộc trong công cuộc giành độc lập thống nhất sang công cuộc dân chủ hoá đất nước, đưa đất nước thực sự đặt bước vững chắc vào KỶ NGUYÊN DÂN CHỦ.Trong sự nghiệp lịch sử trọng đại này, vai trò của các bạn trẻ, với vô vàn sáng kiến, là rất quyết định.  
          Trân trọng gửi tới các bạn trẻ niềm tin và hy vọng của tôi.
Đà Lạt 19.8.2005
  BÙI MINH QUỐC
 03 Nguyễn Thượng Hiền-ĐàLạt
Tác giả gửi cho Nguyễn Tường Thụy

Phản động như VTV là cùng.

Tôi không thù hằn gì ông nhưng nói thật giá mà ông đừng lên TV.
Khối người nghĩ lên TV là để hãnh diện với giòng họ, chóm xóm hay lớn hơn là cả nước thì đôi khi sẽ bị hố to, đặc biệt đối với người có danh có vị, nói theo kiểu giang hồ là có số có má, vì khi lên chỗ thị phi trước mắt hàng triệu người mà ăn nói rối rắm, câu cú lủng củng thì có mà ốm đòn với báo chí, chí ít là bị ném đá mềm người.
TV còn có một tai hại nữa mà các phương tiện truyền thông khác không có, đó là hình ảnh của người “muốn nổi tiếng” sẽ không cách gì mà không “lộ nguyên hình” khi lên TV.
Mặc dù trước khi trình diện bản mặt mình với khán giả thì mấy anh chị đã được bộ phận hóa trang mà Tây gọi là make-up son phấn che lấp những sai sót của tạo hóa. Hố bom hố bò, tàn nhang hay vết nám sẽ bị che bằng các lớp hóa chất mỏng tang nhưng có khả năng biến xấu thành dễ coi, biến hốc hác thành đầy đặn, biến nhăn nheo thành trơn láng và cũng có thể, tùy theo tài năng của người nghệ sĩ make-up, biến hung dữ thành hiền hậu, và hay hơn nữa là biến lùn thành cao ráo hơn một tí!
Nhưng có một điều mà tất cả các tay phù thủy của Holywood bó tay không làm được, đó là biến phì nộn thành…ốm o.
Cái yếu huyệt này đã khiến rất nhiều người nổi tiếng tránh lên TV, nhất là ở Việt Nam, khi người dân vẫn quen nhìn người phì nộn là…lười biếng, háo ăn với hàng lô hàng lốc từ ngữ biếm nhẽ khó nghe.
Có một người không thấy được cái yếu huyệt ấy, ông ta vẫn lên TV, vẫn trả lời phỏng vấn trong vai trò một Bộ trưởng, một Ủy viên Trung ương Đảng, tức là một người có số có má.
Ông ta là Giàng Seo Phử, Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Sắc tộc Việt Nam.
Tôi không mặc cảm gì với thân phận của ông, tôi chỉ thương hại thay cho ông và giận cho VTV khi đem ông lên trong chương trình “Dân hỏi Bộ trưởng trả lời”.
Tôi thấy thảm hại vì khuôn mặt quá khổ của ông tương phản một cách khôi hài với các câu trả lời về tình trạng đói ăn lưu cửu của đồng bào miền núi. Ông càng cố lột tả sự khó khăn của các hộ dân ít người tại các tỉnh vùng cao thì người xem càng cảm thấy ông đang lừa dối họ.
Khi ông nói về sự khó khăn của người dân thì những khối thịt trên mặt chống lại ông một cách quyết liệt. Cơ hàm ông bạnh ra, cổ ông láng bóng và chúng đang quằn quại hết sức đế thoát ra chiếc cổ cồn quá chật, cộng với chiếc cà vạt nhà quê cố thắt cổ thân chủ thay vì làm đẹp cho người mang chúng. Ông ạ, tôi có cảm tưởng khi trả lời xong cuộc phỏng vấn ông sẽ ngã lăn ra mà thở.
Đáng buồn là ông không ngã lăn ra thở như tôi tưởng tượng, mà thay vào đó các cháu miền cao, những người được ông nhắc tới sẽ tiếp tục lăn ra vì đói.
Điều này tôi biết chắc ông không bao giờ để ý, vì nếu biết ông sẽ chấm dứt bài nhạc có cung “cơ chế” mà toàn Đảng, toàn hệ thống kể cả ông đang vin vào khi bị vặn hỏi.
Ông không ờ bên ngoài cái cơ chế ấy, vì ông là Bộ trưởng.
Và vì ông không biết chương trình “Cơm có thịt”, “Áo ấm biên cương”… cũng như những chương trình khác của những con người ngoài cơ chế đang cật lực mang tới cho các em vùng cao chút ấm lòng.
Họ không lãnh lương như ông. Họ không tròn trịa như ông. Không áo vét, cà vạt sang trọng như ông ngồi không đổ vấy cho cơ chế. Họ miệt mài cứu trẻ đói, che chắn trẻ lạnh, ấp ủ những trẻ thiếu chữ vùng cao bằng những hành động thực tiễn. Họ săm soi từng vết nứt dưới chân các em để biết rằng cần phải xin giày mang lên cho chúng.
Họ ngồi ngắm nghía những trẻ ở truồng không phải bằng đôi mắt tò mò mà cố tìm cách nào che cho chúng trôi qua mùa lạnh.
Họ chụp những tấm ảnh ngây thơ nhưng đói lả của các em không phải để dự thi ảnh nghệ thuật mà muốn những tấm ảnh ấy đánh vào lương tâm dư luận để giúp được phần nào những cộng đồng mang tiếng là Việt Nam nhưng thật khó làm cho giới chức Hà Nội hiểu thế nào là cái đói, cái lạnh của trẻ em miền núi.
Chúng còn một cái đói khác lớn hơn, sẽ làm suy dinh dưỡng trí não của chúng cho đến khi trở thành kiệt quệ, đó là đói chữ.
Phải chăng thức ăn của trẻ em đồng bào thiểu số đã chạy về đắp lên đôi má nặng nề của ông? Phải chăng cái đói thảm thương của họ có dính líu tới con đường danh vọng của một đồng hương mang tên Giàng Seo Phử?
Có hay không có ông thì những tộc người ấy vẫn sống, vẫn tìm củ mài củ chuối mà ăn thay vì cơm và gạo như người Kinh. Họ bất cần tới sự trả lời của bộ trưởng Giàng cùng với thứ ngôn ngữ được đánh bóng tới từng dấu phẩy.
Những con người âm thầm sau lưng đang giúp cho các em không được hỏi công khai trên TV và nhiều người tin rằng có hỏi họ cũng không trả lời. Họ khác ông nhiều thứ, từ tâm hồn cho tới bộ dạng. Họ ốm yếu, trong khi ông nung núc. Họ khuân vác những kiện hàng xin được từ xã hội lên tận những nơi tưởng chừng không thể nào lên được trong khi ông ngồi phòng lạnh, chỉ tay năm ngón tới những điều bất cập mà ai cũng biết.
Họ, những con người không muốn nổi danh ấy, đau đáu với những ánh mắt chờ mong rất ngây thơ và đầy bất nhẫn. Những cái tên của các em rất khó phát âm và xa lạ đối với nhiều người nhưng rất quen thuộc với ông vì ông từ vùng núi mà ra. Ông nói chung thứ tiếng nói của họ nhưng không đồng cảm với cái đói, cái khổ đau mà hàng trăm ngàn người đang chịu. Ông cố chứng minh thay Đảng rằng sự đói nghèo của các bộ tộc rất gần gũi với ông là do hoàn cảnh đặc thù của dân tộc.
Ông đã làm tròn trách nhiệm nói dối, lấy nước miếng làm mát những lò điện hạt nhân đang sôi có tên Cao Bằng, Hà Giang, đặc biệt là Lai Châu, Mường Nhé nơi hàng trăm ngàn người H’mông như ông đang ăn củ mài trừ cơm hay đang ở trong các căn nhà chiều cao một thước hai, cố trốn đói bằng cách lên rừng đào củ để sống trong khi Bộ trưởng của họ thủng thình nói rằng tất cả đều do cơ chế!
Tôi cảm thông với ông ở cái góc là ông đã làm tròn công tác lừa dân mà Đảng giao phó. Tôi có thể ghét cái cơ địa của ông nhưng phải nói thật, ông không đủ thông minh để thoát ra khỏi cái bẫy của VTV.
Còn cái góc khác, góc phá hoại của VTV khi mời một con lợn lên thuyết trình về lợi ích của ăn chay thì tôi xin hỏi thẳng: VTV đã nhận của bọn phản động bao nhiêu tiền để làm chương trình này?


Copy từ: Cánh Cò (RFA’ blog

Khó thi hành án vụ Vinashin


Việc thu hồi các khoản tiền sai phạm sau vụ Vinashin đang gặp nhiều khó khăn do bất động sản đóng băng và các doanh nghiệp liên quan trực thuộc Bộ GTVT không quyết tâm

Bộ Tư pháp vừa có văn bản gửi Bộ GTVT đề nghị nhắc nhở Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) và Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) chỉ đạo các đơn vị thành viên tích cực thực hiện các yêu cầu theo quy định trong việc thu hồi số tiền sai phạm của các bị cáo trong vụ án Vinashin đã có hiệu lực từ cuối năm 2012.
Nhiều bất cập
Tại hội nghị trực tuyến tổng kết thi hành án dân sự (THADS) những tháng đầu năm 2013, lãnh đạo Bộ Tư pháp nhận định việc thu hồi rất nhiều khoản tiền, tài sản lớn của Nhà nước đang gặp không ít khó khăn; kết quả thi hành án đạt thấp; năng lực, trình độ, phương pháp quản lý, chỉ đạo, điều hành ở nhiều đơn vị còn chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ, thậm chí yếu kém...
Ngoài việc lãnh án hình sự, Phạm Thanh Bình phải bồi thường số tiền lớn
cho các doanh nghiệp thuộc Bộ GTVT. Ảnh: NGUYỄN QUYẾT
Ông Nguyễn Văn Sơn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục THADS (Bộ Tư pháp), cho biết rất nhiều cơ quan THA địa phương “kêu” gặp nhiều khó khăn khi THA các vụ việc có giá trị tài sản lớn, điển hình nhất là tại Vinashin vì tình hình kinh tế khó khăn, đặc biệt là thị trường bất động sản (BĐS) đóng băng suốt thời gian qua. Nhiều tài sản kê biên để THA nhưng lại không bán được. Bên cạnh đó, các quy định hiện hành còn nhiều bất cập khiến việc sớm truy thu số tiền sai phạm nộp về ngân sách Nhà nước không hề dễ dàng.
Ông Hà Hùng Cường, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, yêu cầu tập trung chỉ đạo việc tổ chức THA đối với các địa phương có nhiều án, án lớn, phức tạp và những đơn vị còn nhiều hạn chế, yếu kém.
Nể nang “sếp” cũ?
Bà Vũ Thị Hằng, Tổng cục THADS, cho biết Vinashin là vụ án lớn, phức tạp; hầu hết các đương sự đều là quan chức, giữ vị trí quan trọng như giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch HĐQT của các công ty - bên THA.
Ngoài việc phải thực hiện bản án hình sự, phán quyết của hai cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm) tuyên 6/9 đương sự nộp án phí tổng cộng 2 tỉ đồng, liên đới bồi thường cho các công ty do mình lãnh đạo và gây thiệt hại hơn 1.000 tỉ đồng. Tuy nhiên, khi xét xử vụ án, tòa án các cấp đã không áp dụng biện pháp bảo đảm tài sản của các đương sự dẫn tới việc THA gặp rất nhiều khó khăn. Theo quy định, sau khi bản án có hiệu lực, bên được THA là các doanh nghiệp Nhà nước phải có đơn yêu cầu THA làm cơ sở cho việc tổ chức thi hành. Tuy nhiên, bên được THA là 6 doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ GTVT lại lơ là trong việc gửi đơn yêu cầu khiến việc ra quyết định THA bị chậm chễ.
Nhiều ý kiến cho rằng sự chậm trễ triển khai thu hồi các khoản tiền sai phạm trong vụ Vinashin xuất phát từ việc nể nang “sếp” cũ của 6 doanh nghiệp trực thuộc Bộ GTVT.
Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Công cho biết đã nhận được văn bản “đốc thúc” của Bộ Tư pháp về việc phối hợp thi hành bản án dân sự trong vụ Vinashin. Bộ GTVT đã chỉ đạo Vinashin, Vinalines, Vụ Pháp chế và các đơn vị liên quan khẩn trương tiến hành các thủ tục cần thiết, phối hợp Bộ Tư pháp thu hồi số tiền được “thụ hưởng” từ các đương sự trong vụ án này. Theo đại diện Vụ Pháp chế (Bộ GTVT), nếu có sự chậm trễ trong việc yêu cầu THA thì trách nhiệm là của các đơn vị trực thuộc do Vinashin và Vinalines quản lý.
Cần có ban chỉ đạo THA vụ Vinashin
Theo bản án của TAND Tối cao, các ông Phạm Thanh Bình (nguyên chủ tịch HĐQT Vinashin), Trần Văn Liêm (nguyên trưởng Ban Kiểm soát Vinashin, nguyên giám đốc Công ty Viễn Dương) cùng liên đới bồi thường cho Vinashin hơn 991 tỉ đồng. Ông Bình cùng các ông Nguyễn Văn Tuyên (nguyên giám đốc Công ty Công nghiệp tàu thủy Hoàng Anh), Đỗ Đình Côn (nguyên phó tổng giám đốc Công ty CP Công nghiệp tàu thủy Hoàng Anh) liên đới bồi thường cho Công ty Công nghiệp tàu thủy Hoàng Anh gần 35 tỉ đồng. Ông Bình và ông Tô Nghiêm, nguyên chủ tịch HĐQT Công ty TNHH MTV Công nghiệp tàu thủy Cái Lân, liên đới bồi thường cho công ty này trên 33,6 tỉ đồng...
Nhiều ý kiến cho rằng cần thành lập ban chỉ đạo THA vụ Vinashin để chỉ đạo việc THA được thống nhất, kịp thời và hiệu quả.
THẾ KHA


Copy từ: Thanh Niên