CHƯA TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐỜI.

Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2013

Bản tin đáng chú ý ngày đầu năm: Phá giá VNĐ

Phá giá VND: 5 cái giá phải trả


  Phá giá VNĐ cũng có nghĩa là đồng USD, ngoại tệ lên giá, VÀNG lên giá, vật tư thiết bị nhập lên giá đồng nghĩa với hàng hóa lên giá => LẠM PHÁT
SGTT.VN - Sau khi mua hơn 2 tỷ USD trong tháng đầu tiên năm 2013, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục mua ròng lượng ngoại tệ lớn tuần đầu tháng 2 này. Cùng lúc, một số chuyên gia đặt vấn đề cần phá giá VND trong năm nay, thậm chí “đều đặn” những năm tới…
Lịch sử đang lặp lại. Trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán năm ngoái, giá USD mua vào của các ngân hàng thương mại lao dốc, thấp hơn giá bán ra trên dưới 300 VND. Vài ngày gần đây, mức độ biến động không quá lớn, song giá USD có những bước giảm đáng chú ý, nhất là giá mua vào.

Nguồn cung lớn từ doanh nghiệp và dân cư được nhìn nhận ở nhu cầu chuyển đổi VND dồn trả cho lương, thưởng và chi tiêu cuối năm. Từ đầu tuần đến nay, cao điểm có ngày Ngân hàng Nhà nước mua ròng tới khoảng 300 triệu USD. Dự trữ ngoại hối chắc chắn tiếp tục tăng lên đáng kể, sau khi đã tăng hơn gấp đôi trong năm 2012 so với 2011.

Trong bối cảnh đó, một số chuyên gia cùng nêu khuyến nghị cần phá giá VND từ 3 - 4% trong năm nay, nhịp độ như vậy trong những năm tới. Nguyên do, VND đang bị định giá cao hơn USD khoảng 20 - 21%; sự ổn định của tỷ giá gần hai năm qua như “thòng lọng” đang siết các doanh nghiệp xuất khẩu, hay nói cách khác là phá giá VND để hỗ trợ xuất khẩu; nếu phá giá VND 4%/năm trong 3 năm liên tục, thì dự trữ ngoại hối sẽ tăng gấp đôi…

Nếu phá giá như vậy, có thể đó là những cái cơ bản sẽ được, song từ góc nhìn của người viết, cũng sẽ có nhiều cái giá phải trả.

Thứ nhất, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ làm gia tăng lạm phát và cản trở những nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ.

Ước tính theo mô hình định lượng mà giới chuyên môn thường sử dụng, nếu phá giá VND 1% sẽ tác động làm tăng chỉ số CPI trong ngắn hạn khoảng 0,65% với độ trễ khoảng 3 tháng (trong điều kiện các nhân tố khác không đổi). Nếu tỷ giá USD/VND bị điều chỉnh ở mức 3 - 4% sẽ gián tiếp làm tăng CPI ở mức 1,95 - 2,60% với độ trễ khoảng 3 tháng.

Tháng 1/2013, CPI đã tăng 1,25%. Tháng 2, một số dự báo nghiêng về khả năng sẽ tăng khoảng 2%. Nếu bồi thêm tác động từ tăng tỷ giá như khuyến nghị trên, mục tiêu kiềm chế lạm phát năm nay thấp hơn năm ngoái sẽ càng khó.

Thứ hai, nếu điều chỉnh với nhịp độ 3 - 4% hàng năm như vậy sẽ làm gia tăng kỳ vọng tỷ giá và phá vỡ những nỗ lực của Ngân hàng Nhà nước trong việc bình ổn tỷ giá và tâm lý thị trường; niềm tin đối với giá trị VND dễ bị mài mòn.

Với nhà điều hành, hẳn khó để quên những xáo trộn của tỷ giá trong những năm 2008 - 2011, mà nổi bật là yếu tố tâm lý, tình trạng găm giữ ngoại tệ căng thẳng và đô la hóa phức tạp trong nền kinh tế. Nay, đám than đó vạc lửa, làn gió khá mạnh 3 - 4% có thể thổi bùng nó trở lại, tạo ra một kỳ vọng mới và dễ gây bất ổn thị trường ngoại hối.

Thứ ba, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ gia tăng mức độ nợ công của nền kinh tế.

Theo số liệu của một số tổ chức quốc tế và trong nước, tính đến 31/12/2012, nợ công so với GDP của Việt Nam đã ở ngưỡng 55,4%. Do đó, việc điều chỉnh tỷ giá USD/VND sẽ làm gia tăng gánh nặng nợ của Chính phủ và ảnh hưởng không nhỏ tới an toàn tài chính quốc gia và tính bền vững của ổn định kinh tế vĩ mô.

Thứ tư, việc phá giá VND thực tế có hỗ trợ cho xuất khẩu, cân bằng cán cân thương mại như thế nào cũng cần được xét thêm.

Phá giá VND sẽ kích thích xuất khẩu, nhưng cũng cần lưu ý rằng Việt Nam là một nền kinh tế nhỏ với độ mở lớn. Có quá nhiều mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước phải nhập khẩu mà sản xuất trong nước chưa đủ sức thay thế; trên 70% hàng hóa nhập khẩu là phục vụ cho hoạt động sản xuất trong nước và xuất khẩu, khi phá giá VND sẽ làm giá cả hàng hóa nhập khẩu tăng, nhập siêu có thể trầm trọng trở lại như trước.

Tham khảo tính toán theo mô hình định lượng của giới chuyên môn thời gian qua cho thấy, nếu phá giá VND so với USD thì sẽ tác động làm giảm giá xuất khẩu thấp hơn so với mức độ làm tăng giá nhập khẩu.

Ở đây có một thực tế, suốt từ năm 1994 đến nay, Việt Nam là nước nhập siêu triền miên với mức độ lớn. Song, chính trong quãng ổn định tỷ giá USD/VND gần hai năm qua, xuất siêu đã trở lại, năm 2012 và tiếp tục thể hiện đầu năm 2013, cùng tốc độ tăng trưởng khá cao của kim ngạch xuất khẩu.

Dễ nhận thấy, thay vì phá giá VND mạnh và liên tiếp, hai năm qua Ngân hàng Nhà nước lại chọn hướng hỗ trợ xuất khẩu bằng kênh tín dụng. Năm 2011, tín dụng cho xuất khẩu tăng trưởng đột biến với 58%, năm 2012 cũng cao hơn bình quân ngành với 14%; lãi suất cho vay các doanh nghiệp xuất khẩu được áp trần thấp hơn hẳn so với cho vay thông thường… Ngoài ra, hỗ trợ xuất khẩu còn có ở chính sách thuế, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài chứ không chỉ dồn vai tỷ giá.

Thứ năm, nếu phá giá VND như kiến nghị trên của một số chuyên gia, niềm tin và dòng vốn đầu tư nước ngoài có thể bị ảnh hưởng, bởi họ bị “móc túi” khi rót vốn vào Việt Nam.

Chỉ riêng ở dòng vốn gián tiếp, những năm 2008 - 2011, đã có quá nhiều điển hình các quỹ đầu tư thua đơn, thiệt kép vì tăng tỷ giá. Tỷ suất lợi nhuận không còn quá hấp dẫn để bù đắp cho rủi ro tỷ giá cỡ gần 10% mỗi năm...
Những tháng cuối năm 2012 và đầu 2013, thị trường chứng khoán đã có dấu hiệu khởi sắc trở lại. Diễn biến trên sàn ghi nhận dấu ấn đậm nét của khối ngoại. Họ có những lý do để sôi động hơn, trong đó chắc chắn có niềm tin và kỳ vọng vào một tỷ giá USD/VND ổn định. Nay, nếu phát đi một thông điệp phá giá VND, khá mạnh như khuyến nghị 3 - 4% nói trên (và có thể lớn hơn với hiệu ứng khó kiểm soát của tâm lý đầu cơ, găm giữ nếu bị kích hoạt trở lại), sẽ là một tác động tiêu cực đối với họ.

Tương tự là với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Việt Nam liệu có là điểm đến hấp dẫn để tạo ra những nhà xuất khẩu hàng chục tỷ USD khi mà chi phí đều đặn đội thêm ít nhất 3 - 4% mỗi năm chỉ riêng điều chỉnh tỷ giá?

Trước những tác động như vậy, nhà điều hành có lẽ sẽ phải tính toán thận trọng trước những khuyến nghị phá giá VND.
Theo VNECONOMY


Copy từ: SGTT

Phá giá VND: “Trái chiều quan điểm cũng là điều hay”

+ Phá giá VNĐ: 5 cái giá phải trả
+ Phá giá VNĐ: chuyên gia nói có , Ngân hàng nhà nước nói không

SGTT.VN - Những quan điểm trái chiều về tỷ giá cũng là một điều hay. Nhà điều hành cần lắng nghe...
Gần đây, tỷ giá USD/VND không nhiều biến động trên thị trường, song lại xáo động trong các quan điểm trái chiều về hướng điều hành. Là tiến sỹ kinh tế chuyên về lý thuyết tỷ giá hối đoái, ông Trương Văn Phước, Tổng giám đốc Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), cho rằng những quan điểm trái chiều hiện nay không hẳn là mâu thuẫn, vì tỷ giá luôn là một vấn đề quan trọng, phức tạp dưới những góc nhìn khác nhau, và nó hấp dẫn.
Ông Trương Văn Phước, Tổng giám đốc Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank). 
Không nên chủ động phá giá VND
Những ngày gần đây, một số chuyên gia cùng hướng về khuyến nghị Việt Nam cần phá giá VND trong năm nay với mức độ từ 3 - 4%, và tiếp tục như vậy trong những năm tiếp theo. Nguyên do chủ yếu là VND đang bị định giá quá cao, khoảng 20 - 21% so với USD, do tỷ giá quá ổn định gần hai năm qua gây khó khăn cho xuất khẩu… Theo ông, liệu có nên chủ động phá giá như vậy không và vì sao?
Tỷ giá hối đoái luôn là đề tài hấp dẫn cho giới học thuật tranh luận, và các lực lượng thị trường suy đoán, dự báo. Có hai biến số kinh tế vĩ mô của các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong cách nhìn của giới đầu tư nước ngoài, là lạm phát và tỷ giá. Hơn thế nữa, hai biến số này lại tác động qua lại lẫn nhau khá phức tạp. Cho nên tôi không ngạc nhiên khi có rất nhiều ý kiến bình luận về tỷ giá.

Bây giờ nói về tỷ giá USD/VND đang là thế nào, thì cũng phải đứng trên nhiều giả định. Với những giả định đó, thì ta mới có thể nói hết sức tương đối rằng giá trị thực của đồng tiền Việt Nam so với đô la Mỹ là trên hay dưới giá trị của nó. Bản thân tôi chưa thấy thuyết phục khi nghe rằng “VND đang bị định giá quá cao so với USD…; do tỷ giá quá ổn định gần hai năm qua gây khó khăn cho xuất khẩu”.

Tính từ 2008 đến nay, VND đã mất giá trên 30%, từ mức xấp xỉ 16.000 đồng, nay đang tiệm cận mức 21.000 VND/USD. Kim ngạch xuất khẩu của nước ta trong 5 năm qua, chỉ trừ năm 2009 giảm 10% do các tác động tức thời của khủng hoảng kinh tế thế giới, đều tăng với một tốc độ cao; năm 2011 tăng 34%, 2012 tăng 19%.
Trong 5 năm vừa qua, tính trung bình thì hàng năm lãi suất VND cao hơn USD khoảng 10% trong khi bình quân tỷ giá VND giảm so USD là 6%/năm. Cho nên, có một lực đẩy thực tế của thị trường theo chiều đi xuống không cho USD tăng giá nhiều thêm vì người nắm giữ VND vẫn hưởng lợi ròng là 10% - 6% = 4%.
Không ai phủ định quy luật “đồng tiền giảm giá thì hỗ trợ cho xuất khẩu” cả. Nhưng cũng cần phải lưu ý rằng bản thân tỷ giá riêng lẻ nó không quyết định cho tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, vì kim ngạch xuất khẩu có thể xem như là một hàm nhiều biến, mà tỷ giá hối đoái chỉ là một biến số.
Vả lại, xuất khẩu ở Việt Nam phụ thuộc không quá nhiều vào tỷ giá hối đoái. Đây là kết quả của các công trình nghiên cứu nghiêm túc về sự tác động của tỷ giá hối đoái đến xuất khẩu ở nước ta. Đó là chỉ xem tỷ giá dưới góc độ cạnh tranh thương mại, mà sâu xa của nó là chênh lệch lạm phát của các đồng tiền trong một rổ tiền tệ làm cơ sở để điều hành chính sách tỷ giá hối đoái.

Còn tỷ giá thì bị/được thị trường điều tiết một cách lạnh lùng, vì nó dựa vào quy luật ngang giá lãi suất, dựa vào kỳ vọng, dựa vào mơ ước của thị trường. Nói một cách nôm na, đồng tiền nào có lãi suất cao thì lợi thế tăng giá nhiều hơn.

Trong 5 năm vừa qua, tính trung bình thì hàng năm lãi suất VND cao hơn USD khoảng 10% trong khi bình quân tỷ giá VND giảm so USD là 6%/năm. Cho nên, có một lực đẩy thực tế của thị trường theo chiều đi xuống không cho USD tăng giá nhiều thêm vì người nắm giữ VND vẫn hưởng lợi ròng là 10% - 6% = 4%.
Ông nói chưa thấy thuyết phục về kết quả định giá trên, cụ thể chưa thuyết phục thế nào?
Ở đây cần phải nói thêm về khái niệm “định giá”. Khái niệm này chủ yếu nằm trong cơ chế tỷ giá cố định. Nêu khái niệm này trong cơ chế tỷ giá đặc thù của Việt Nam là không phải. Vì thực ra các lực đẩy của thị trường về cung cầu là một tham chiếu cho hành động can thiệp của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường ngoại hối.

Theo tôi, trong môi trường đó cần tiếp cận khái niệm “ngang giá tiền tệ” thay cho “định giá” thì đúng hơn. Xác định mức “ngang giá tiền tệ” này là việc phức tạp nhưng có thể làm được. Lựa chọn “năm cơ sở” là việc khó nhất, vì nó phụ thuộc vào quan điểm, vào giả định các điều kiện tối ưu của nền kinh tế…

Ý kiến riêng của tôi dựa trên những tính toán của riêng mình thì VND đang tịnh tiến về “vùng tỷ giá mục tiêu” theo các nguyên tắc xác lập mức “ngang giá tiền tệ”, nên không cần thiết, và không nên phá giá VND. Nhưng điều này cũng không có nghĩa là cố định tỷ giá, mà tùy vào nhiều yếu tố để Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tỷ giá trên nền tảng cơ chế tỷ giá hối đoái đã lựa chọn.
Chưa thấy thuyết phục là nhìn nhận của ông, nhưng nếu đó là một thực tế thì theo ông nó đi cùng với những bất cập gì và hướng xử lý?
Luôn luôn có những ý kiến bình luận về tỷ giá, suy cho cùng, cũng là một điều hay. Vì nhờ đó các cơ quan quản lý luôn đặt mình trong một trạng thái phải quan sát thường trực các biến động của thị trường ngoại hối.
Tôi hơi ngạc nhiên về ý kiến “VND bị định giá cao” mà số liệu còn nêu cụ thể “20 - 21% so với USD”. Như tôi đã trình bày ở trên, việc lựa chọn “năm cơ sở” là rất quan trọng trong các mô hình tính toán tỷ giá thực. Nó như là những “cột mốc” cần phải đuổi theo “cỗ xe” hội nhập kinh tế thế giới. Vì trong quá trình toàn cầu hoá, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các chính sách kinh tế và thương mại quốc tế, quá trình tự do hoá các dòng vốn, hiện tượng xuất khẩu lạm phát… làm cho các mô hình tính toán tỷ giá phải được điều chỉnh các biến số rất nhạy bén.

Cho nên tôi không cho rằng ý kiến nêu trên là chính xác. Hãy quan sát thị trường, xem thanh khoản trên thị trường ngoại hối thế nào, cung cầu ngoại tệ ra sao, các chỉ số kinh tế vĩ mô khác biến động bao nhiêu, kể cả sự tăng hay giảm giá của đồng USD so với các đồng tiền của các quốc gia khác mà Việt Nam có quan hệ về thương mại, đầu tư, vay nợ… để có các ứng xử phù hợp. Đó là cách mà tôi nghĩ Ngân hàng Nhà nước đang và sẽ tiếp tục làm như thế.
Tăng dự trữ ngoại hối đâu đơn giản!
Có một tính toán đưa ra là, nếu Việt Nam phá giá VND 4%/năm trong 3 năm liên tục thì dự trữ ngoại hối sẽ tăng gấp đôi. Ông nhìn nhận thế nào về mối quan hệ giữa điều chỉnh tỷ giá USD/VND với sự tăng - giảm của dự trữ ngoại hối?
Nếu có một nhà toán học nào chịu khó ngồi mô hình hoá quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và mức tăng, giảm dự trữ ngoại hối thì mô hình đó, theo tôi nghĩ, xác lập tương quan “phi tuyến tính”, chứ không có quy luật “tỷ giá tăng α thì dự trữ tăng β”. Mức tăng dự trữ ngoại hối đâu đơn giản như thế được!

Chỉ có một quy luật đơn giản tác động lên kho dự trữ của bất kỳ một loại hàng hoá nào, đó là lượng xuất và nhập hàng ra vào kho. Dự trữ ngoại hối của nước ta năm rồi tăng mạnh, đó là do xuất khẩu ta tăng cao hơn mức mức tăng của nhập khẩu, tạo ra hiện tượng xuất siêu. Không bàn sâu xa xuất siêu tác động ra sao đến nền kinh tế, phải thừa nhận rằng xuất siêu đã cải thiện cán cân vãng lai tốt hơn nhiều so với trước. Cùng với thặng dư trên cán cân vốn, xuất siêu đã làm cán cân thanh toán tổng thể tốt hơn, dự trữ ngoại hối tăng cao hơn trước.
Trở lại với khuyến nghị trên của một số chuyên gia, có một điểm ngoài chuyên môn thế này: dễ nhận thấy có một mâu thuẫn trong dư luận, những năm trước tỷ giá USD/VND liên tục biến động và tăng mạnh, yêu cầu đặt ra căng thẳng là Ngân hàng Nhà nước phải bình ổn và giữ ổn định. Nay, giữ ổn định được rồi thì lại là áp lực yêu cầu “phải” phá giá. Ông có thể nói về mâu thuẫn này không, hay đó là áp lực luôn có?
Cũng phải công tâm mà nhìn nhận rằng có một quy luật khách quan, phổ biến là ở đất nước nào mà sức mua đối nội của đồng tiền, biểu hiện qua lạm phát, giảm xuống thì cũng kéo theo sức mua đối ngoại của đồng tiền đó, biểu hiện qua tỷ giá, thấp đi.

Mấy năm rồi lạm phát của nước ta tăng cao, tạo ra một tâm lý đồng tiền liên tục mất giá. Thực ra Ngân hàng Nhà nước cũng đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng và biên độ dao động cho phép phù hợp với các điều kiện của thị trường nên đã đem đến sự ổn định của tỷ giá. Chứ mấy năm trước tỷ giá cũng rất nhiều biến động.

Luôn luôn có những ý kiến bình luận về tỷ giá, suy cho cùng, cũng là một điều hay. Vì nhờ đó các cơ quan quản lý luôn đặt mình trong một trạng thái phải quan sát thường trực các biến động của thị trường ngoại hối. Còn các loại ý kiến, tôi cho là cũng có một mức độ chính xác nào đấy chứ không có mâu thuẫn gì cả, vì tỷ giá luôn là một vấn đề quan trọng và phức tạp. Mỗi người có quyền tiếp cận ở những chiều khác nhau.
Năm nay tỷ giá sẽ biến động theo chiều tăng
Năm nay, Ngân hàng Nhà nước không nêu định hướng kiểm soát khoảng biến động cụ thể của tỷ giá USD/VND như năm ngoái. Còn ông, có dự tính của mình hay một dự báo có thể chia sẻ không?
Công bố trước tỷ giá sẽ là bao nhiêu trong một năm có ưu điểm và nhược điểm mà người làm chính sách phải cân nhắc.
Ưu điểm là làm cho các lực lượng thị trường có liên quan đến tỷ giá tính toán dễ dàng hơn, ở một khía cạnh nào đó như là được bảo hiểm ngầm. Nhược điểm là định hướng trước tỷ lệ % tăng giảm tỷ giá, vô hình trung làm méo mó kỳ vọng thị trường và các hệ quả có thể không tốt xảy ra. Vì chẳng may từ lý do nào đó tỷ giá không như thế thì sao?
Nhưng vì tôi không phải là người làm chính sách tỷ giá nên việc dự báo có vẻ thoải mái hơn. Dự báo của tôi có thể chính xác hoặc không. Nhưng tôi phải đảm bảo dự báo này là trung thực từ tính toán, suy đoán của mình.

Tôi nghĩ, tăng tỷ giá nhiều trong năm nay không có lợi. Cần quan tâm quy luật cộng hưởng, truyền dẫn qua lại giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát. Nếu năm nay kinh tế từng bước phục hồi thì cầu nhập khẩu sẽ tăng lên. Có dự báo kim ngạch nhập khẩu năm nay trên 130 tỷ USD. Nếu tỷ giá tăng mạnh thì lạm phát sẽ bị ảnh hưởng. Nếu lạm phát không được kiềm chế tốt sẽ tác động ngược lại, buộc tỷ giá phải tăng lên. Nghĩa vụ nợ đến hạn của quốc gia cũng là một chủ đề cần tính toán kỹ khi xem xét tỷ giá… Đó là nền tảng suy nghĩ của tôi khi dự báo rằng, năm nay tỷ giá sẽ biến động theo chiều tăng, từ 2 - 3%.
Theo VNECONOMY

Copy từ: SGTT 
 
 

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

Chim mồi


Một nửa ổ bánh mỳ vẫn là bánh mỳ
Một nửa sự thật thì không phải là sự thật!
...

Muốn bẫy những chú chim đang tự do vẫy vùng trên bầu trời bao la rộng lớn người ta có rất nhiều cách, nhưng lâu đời nhất, phổ biến nhất và hiệu quả nhất vẫn là biện pháp sử dụng đồng loại để bẫy đồng loại, tức là chim mồi.

Chim mồi là những con chim đã được thuần dưỡng vì nhiều mục đích khác nhau của chủ nó.

Một chủ chim có thể có rất nhiều chim mồi, và những chú chim mồi đó có thể biết hoặc chẳng bao giờ biết về nhau.

Chúng sống, tồn tại, vui buồn ra sao nhờ vào khã năng, sự tận tụy đối với chủ. Và thực tế, chưa hẳn chủ nó là người tử tế, thậm chí có thể là một kẻ đồi bại, ác nhân.

Đinh Tỵ

P/s: Nhắn với Kami - Người đưa tin, xà bông không nổi bọt tại vì đồ quá bẩn. Hình như, ABS có lần muốn nhỏ to câu chuyện nhân sự RFA, mở một tí ...?

Xem thêm:
- Cho đó là thật tức là không thật
- Vì sao cáo trở nên hiền từ
- Trương Duy Nhất và Tom Cat
- Quan báo tào lao và công luận 'nhao nhao'




Copy từ: Phước Béo

 

TQ sai khi tuyên bố "chủ quyền vô hình”?





Trung Quốc đã xây nhiều cơ sở trên các bãi cạn tại Trường Sa.
Trong bài viết đăng trên Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng, Phóng viên BBC Bill Hayton nói lỗi dịch thuật khoảng tám thập niên trước khiến một hòn đảo không tồn tại đã trở thành lãnh thổ phía cận nam của Trung Quốc. BBC tiếng Việt xin giới thiệu cùng quý vị.
Đâu là "điểm cận nam của lãnh thổ Trung Quốc"? Đó là một câu hỏi gây tranh cãi và câu trả lời ít nhất gây tranh cãi nhất có thể là đảo Hải Nam.
Câu trả lời gây nhiều tranh cãi hơn sẽ là quần đảo Hoàng Sa hoặc Trường Sa.
Thế nhưng điểm cận nam chính thức thậm chí còn vươn xa hơn nữa, kéo xuống phía nam như James Shoal (Bãi ngầm James), cách bờ biển Borneo khoảng 100 km.
Điều gây ngạc nhiên hơn là lãnh thổ này thực ra là vô hình. Không có gì ở đó cả, trừ phi quý vị có thiết bị lặn.
Bãi ngầm James nằm dưới mặt biển 22 mét. Tuy nhiên, sự bất tiện này không ngăn cản các tàu của hải quân Trung Quốc thỉnh thoảng đến thăm bãi này để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc tại đây.
'Lỗi dịch thuật'
Làm thế nào mà nhà nước Trung Quốc lại xem nơi đây là lãnh thổ cực nam của họ?
Tôi đã nghiên cứu chủ đề này bấy lâu nay trong lúc viết một cuốn sách về Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).
Câu trả lời dường như rất có thể là kết quả của một lỗi dịch thuật.
Trong những năm 1930, Trung Quốc đã đắm chìm trong làn sóng dân tộc tộc chủ nghĩa.
"Ủy ban Kiểm tra Bản đồ Đất và Biển chỉ đơn giản là sao chép các bảng biểu của Anh Quốc sẵn có lúc đó và đổi tên của các hòn đảo để nghe cho có âm Trung Quốc"
Thực trạng xâm chiếm của cường quốc phương Tây và đế quốc Nhật Bản, cũng như việc Trung hoa Dân Quốc không làm được gì nhiều trước sức mạnh của ngoại bang gây ra làn sóng phẫn nộ trong dân và ngay cả trong chính quyền.
Năm 1933, họ lập ra "Ủy ban Kiểm tra Bản đồ Đất và Biển" để chính thức liệt kê, mô tả và vẽ bản đồ tất cả các vùng lãnh thổ Trung Quốc. Đó là một nỗ lực để khẳng định chủ quyền đối với lãnh thổ rộng lớn của mình.
Vấn đề chính ủy ban phải đối mặt, ít nhất là tại Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), là họ không có phương tiện để thực sự khảo sát bất kỳ khu vực nào nhằm tuyên bố chủ quyền.
Thay vào đó, ủy ban này chỉ đơn giản là sao chép các bảng biểu của Anh Quốc sẵn có lúc đó và đổi tên của các hòn đảo để nghe cho có âm Trung Quốc.
Chúng ta biết họ đã làm điều này vì bản đồ của ủy ban có khoảng 20 lỗi vốn xuất hiện trên bản đồ của Anh – những nơi mà sau này có điều kiện khảo sát tốt hơn cho thấy rằng các đảo không hề tồn tại.
Ủy ban đã đặt tên Trung Quốc cho một số đảo tại quần đảo Trường Sa.
North Danger Reef được gọi là Bãi Bắc Hiểm, Antelope Reef được gọi là Bãi Linh Dương. Các tên khác đã được phiên âm như vậy và James Shoal trở thành Bãi Tăng Mẫu. Và có vẻ là lỗi dịch thuật nằm ở chỗ này.
Nhưng làm thế nào để dịch từ "shoal" (bãi ngầm)? Đây là một từ hải lý có nghĩa là một khu vực biển nông nơi sóng "tràn lên". Thủy thủ sẽ thấy một khu vực lạ vì có lẫn cả nước và đá ở giữa đại dương và biết khu vực này nông, do đó nguy hiểm. James Shoal (Bãi ngầm James) là một trong nhiều bãi như vậy tại quần đảo Trường Sa.
Nhưng ủy ban dường như không hiểu thuật ngữ oái oăm trong tiếng Anh vì họ dịch “Shoal” là "Bãi" như kiểu bãi biển hoặc bãi cát, là nơi nhô hẳn lên trên mặt nước. Ủy ban này, vốn không bao giờ đến thăm khu vực, dường như đã tuyên bố James Shoal/Bãi Tăng Mẫu là một vùng đất và do đó là một phần lãnh thổ của Trung Quốc.
'Đường lưỡi bò'

Việt Nam phản đối đường lãnh thổ "lưỡi bò" của Trung Quốc tại Biển Đông.
Năm 1947, những người vẽ bản đồ của Trung Quốc đã rà soát lại chủ đề biên giới biển của Trung Quốc, phác ra điều được biết tới như "đường chữ U" (lưỡi bò).
Có vẻ như họ nhìn vào danh sách các tên Trung Quốc, cho rằng Bãi Tăng Mẫu nằm trên mặt nước và đã gộp bãi này vào trong phạm vi đường chữ U. Một hòn đảo không tồn tại đã trở thành lãnh thổ cận nam của Trung Quốc.
Tuy nhiên, trong quá trình song song cùng một khoảng thời gian này, chính phủ Trung Quốc đã đặt các tên mới cho những vùng lãnh thổ ngoài biển. Quần đảo Trường Sa đã được gọi là Nam Quý và James Shoal được thay đổi cách gọi từ một bãi cạn thành một bãi san hô.
Có lẽ, vào thời gian này, nhà chức trách đã nhận ra sai lầm của mình. Tuy nhiên Bãi san hô Tăng Mẫu vẫn được coi là vùng lãnh thổ chính thức tại cực nam của Trung Quốc.
Tới thời điểm này, các lỗi dịch thuật đã trở thành một thực tế, cấu thành tranh chấp lãnh thổ cho các nước trong khu vực cho 80 năm sau.
"Có lẽ nay là thời điểm tốt cho Bắc Kinh để họ xem xét lại là làm thế nào họ lại tuyên bố chủ quyền cho một vùng lãnh thổ ngập nước từ lúc đầu."
Đây là một thực tế còn hơn cả dữ kiện lịch sử. Bãi ngầm James là phép thử xem liệu Bắc Kinh có thực sự cam kết với các quy định của luật pháp quốc tế ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) hay không.
Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, không một quốc gia nào có thể tuyên bố chủ quyền cho lãnh thổ bị ngập nước trừ phi nó nằm trong phạm vi 12 hải lý tính từ bờ. Bãi James nằm cách lãnh thổ không có tranh chấp của Trung Quốc hơn 1.000 km.
Tháng trước, chính phủ Philippines tuyên bố sẽ tìm kiếm một phán quyết từ tòa án quốc tế về việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền biển có tương thích với các công ước của Liên Hiệp Quốc hay không.
Bãi James sẽ là một ví dụ rõ ràng về một tuyên bố không tương thích. Có lẽ nay là thời điểm tốt cho Bắc Kinh để họ xem xét lại là làm thế nào họ lại tuyên bố chủ quyền cho một vùng lãnh thổ ngập nước từ lúc đầu.
Ông Bill Hayton đang viết một cuốn sách về Biển Đông, theo dự kiến sẽ xuất bản vào cuối năm nay. Tác giả gần đây  bị từ chối nhập cảnh vào Việt Nam để dự một hội nghị về Biển Đông.



Copy từ: BBC

LM Nguyễn Văn Lý, HT Thích Quảng Độ được đề cử giải Nobel Hòa Bình 2013


LM Nguyễn Văn Lý, Hòa thượng Thích Quảng Độ được đề cử giải Nobel Hòa Bình 2013

Từ trái: Viên chức Chính trị của Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh Nick Snyder, Kathleen Peoples, Viên chức Chính trị của Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại HCMC, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David Shear và Đức Tăng thống Thích Quảng Độ, Lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và ứng viên giải Novel Hòa bình, hình chụp ngày 17/8/2012.

Hai nhân vật bất đồng chính kiến Việt Nam được nhiều người biết đến, Linh mục Nguyễn Văn Lý và Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ, được đề cử nhận Giải Nobel Hòa Bình năm 2013.

Thư đề cử của hai nghị sĩ Hoa Kỳ Chris SmithZoe Lofgren gửi Ủy ban Nobel Hòa Bình tại Na Uy nói hai nhà lãnh đạo tôn giáo, nhà hoạt động dân chủ, và cũng là tù nhân lương tâm nổi tiếng của Việt Nam này tuy phải chịu sự đàn áp thường xuyên từ nhà cầm quyền, nhưng vẫn kiên định tiếp tục cổ xúy nhân quyền cho người dân Việt Nam bằng những cái giá mà bản thân họ phải trả.

Thư viết rằng Linh mục Lý trong 37 năm qua không ngừng đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhiều lần bị nhà nước bỏ tù trong những điều kiện giam giữ nghiệt ngã. Vị linh mục 66 tuổi này đã bị tuyên án 4 lần với tổng cộng 53 năm tù đày và 10 năm quản chế.

Năm 2006, ông thành lập nhóm đấu tranh dân chủ tại Việt Nam lấy tên là Khối 8406 nhằm kết nối các nhà hoạt động trong và ngoài nước trong công cuộc cổ võ dân chủ-đa đảng, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, và tự do lập hội cho người dân tại Việt Nam. Linh mục Lý là tác giả nhiều bài viết nói về dân chủ, nhân quyền, và cũng là người đồng sáng lập Đảng Thăng tiến Việt Nam.

Linh mục Nguyễn Văn Lý tại Nhà Chung thuộc Tòa Tổng giám mục Huế (ảnh chụp ngày 15/3/2010).Linh mục Lý hiện đang thi hành bản án 8 năm tù về tội danh “tuyên truyền chống nhà nước” dù tình trạng sức khỏe đang rất suy yếu
​​Linh mục Lý hiện đang thi hành bản án 8 năm tù về tội danh “tuyên truyền chống nhà nước” dù tình trạng sức khỏe đang rất suy yếu.

Phiên xử ông cuối tháng 3 năm 2007 bị công luận quốc tế chỉ trích mạnh mẽ, đặc biệt sau khi bức hình chụp cảnh ông bị một nhân viên an ninh bịt miệng ngay trước vành móng ngựa được phổ biến ra thế giới.

Trong cuộc phỏng vấn với VOA Việt ngữ vào giữa tháng 3 năm 2010 ngay khi bước chân ra khỏi trại giam với lệnh hoãn thi hành án trong 1 năm vì lý do sức khỏe, linh mục Nguyễn Văn Lý khẳng định tù tội không làm ông nao núng trong lý tưởng đấu tranh đòi dân chủ cho người dân Việt Nam vì, theo ông, đó là “cái giá phải trả của những người đấu tranh chân chính”.

Linh mục Lý nói: “Tôi không nhận bản án. Tôi cũng không coi mình là phạm nhân mà luôn luôn coi mình là tù nhân lương tâm. Tôi coi bản án đó là thiếu văn minh, trái với các Công ước  quốc tế mà Việt Nam đã ký. Những người đấu tranh bất bạo động càng ở tù thì càng mạnh hơn. Đối phương càng bắt bớ thì càng yếu hơn. Chuyện tù đày là cái giá phải trả của những người đấu tranh chân chính thôi.”

Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ năm nay 84 tuổi là nhà hoạt động lâu năm và là một học giả tôn giáo được kính trọng. Ngài lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, một tổ chức tôn giáo độc lập không được nhà nước cộng sản Việt Nam công nhận trong hơn 37 năm qua. Ngài đã trải qua nhiều chục năm bị giam cầm vì hoạt động dân chủ ôn hòa, kêu gọi nhân quyền và đa đảng tại Việt Nam.

Tôi luôn luôn coi mình là tù nhân lương tâm...Những người đấu tranh bất bạo động càng ở tù thì càng mạnh hơn. Đối phương càng bắt bớ thì càng yếu hơn. Chuyện tù đày là cái giá phải trả của những người đấu tranh chân chính...
Năm 2001, Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ đưa ra lời Kêu gọi cho Dân chủ Việt Nam với một chương trình 8 điểm thực hiện tiến trình dân chủ hoá Việt Nam một cách ôn hòa. Vì lời kêu gọi này, Ngài bị nhà cầm quyền ra lệnh quản thúc 2 năm mà không qua xét xử. Kể từ năm 2003 tới nay, Ngài bị đưa về quản thúc tại Thanh Minh thiền viện dù không có án lệnh.

Thư của hai nghị sĩ Mỹ đề cử Giải Nobel Hòa Bình cho Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ và Linh mục Nguyễn Văn Lý nói trao giải thưởng cao quý cho hai nhân vật này là một sự ghi nhận quan trọng rằng các nhân quyền căn bản có giá trị toàn cầu mà tất cả các chính phủ buộc phải tôn trọng.

Tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế có trụ sở tại Mỹ, Freedom Now, lên tiếng hoan nghênh sự đề cử này, nói rằng các hoạt động chính đáng của hai nhân vật bất đồng chính kiến vừa kể nên được vinh danh thay vì bị trừng trị. Freedom Now đồng thời kêu gọi Hà Nội trả tự do ngay lập tức cho hai vị lãnh đạo tinh thần.

Cùng lúc đó, Tổ chức Đoàn Kết Thiên Chúa giáo Toàn cầu nói họ hy vọng đề cử này sẽ khiến thế giới chú ý hơn tới tình trạng đàn áp tôn giáo đối với giới bất đồng chính kiến tại Việt Nam ngày nay.

Kết quả Giải Nobel Hòa Bình 2013 sẽ chính thức được công bố vào tháng 10 năm nay.



Copy từ: VOA