CHƯA TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐỜI.

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Nói láo ngọt bùi, hay nói thật đắng cay ?

Nhờ một chút cơ duyên, tôi may mắn được đánh đu với nhiều thế hệ nhà báo, từ những nhà báo đang sung sức đến những nhà báo đã cao niên, từ lãnh đạo báo chí cấp cao cho đến phóng viên tập sự nhút nhát. Và điều tôi đúc kết được là càng ngày các nhà báo càng có quan điểm đơn giản về nghề báo. Thậm chí đâu đó đã xuất hiện khuynh hướng coi báo chí như một nghề kiếm ăn bình thường, không hề có hoài bão gì, không hề có sứ mệnh gì. Ý niệm sự thật và chính nghĩa trở nên mong manh khi nhà báo chấp nhận xã hội như một bức tranh được vẽ sẵn và cây bút của nhà báo chỉ dùng để tô màu. Đáng sợ hơn, nếu hành vi tô màu của nhà báo không phụ thuộc vào năng lực của mình mà phụ thuộc vào mong muốn của những người ban lợi ích cho mình! Tôi thường phải rất cố gắng để tránh khỏi kiểu cười chua chát khi mường tượng hình ảnh nhà triết học lừng lẫy thế kỷ 18 của nước Pháp – Edmund Burke nhìn lên khu vực dành cho báo chí trong lâu đài Versailles mà bảo rằng: “Trên kia là đẳng cấp thứ tư và họ nắm giữ quyền lực nhiều hơn ba đẳng cấp quý tộc, tăng lữ và thường dân”.  


NÓI LÁO NGỌT BÙI HAY NÓI THẬT ĐẮNG CAY ?
LÊ THIẾU NHƠN
Đối với tôi, ngày 21-6 mỗi năm bao giờ cũng là dịp tự vấn nghề báo tốt nhất. Giữa hoa mừng và chúc tụng, tôi cố dành ra một khoảng lặng để suy nghĩ thật nghiêm túc về chức phận cầm bút trót đeo mang. Không còn ở độ tuổi hai mươi chớp nhoáng hy vọng vội vàng thất vọng, tôi cho rằng xã hội thông tin càng nở rộ thì vai trò của nhà báo càng bị đặt vào nhiều hoàn cảnh thử thách cam go hơn!

Cứ trôi miên man theo các sự kiện, nhà báo không dễ định vị bản thân và càng không dễ thấu hiểu đồng nghiệp mình. Lịch sử báo chí Việt Nam đã có một bề dày nhất định, nhưng đến hôm nay chỉ có mỗi cuốn “Bốn mươi năm nói láo” ít nhiều có thể giúp các nhà báo nhìn thấy chính họ và công việc của họ. Vũ Bằng đã lấy cột mốc từ cái tiểu phẩm châm biếm đầu tay “Lọ văn” viết năm 16 tuổi để năm 1969 cho ra đời cuốn “Bốn mươi năm nói láo”. Đôi lúc tôi cứ băn khoăn, trước khi vĩnh viễn rời khỏi thế giới chữ nghĩa nhọc nhằn vào năm 1984, nếu Vũ Bằng viết thêm một cuốn sách về nghề báo thì liệu ông có đặt tên là “Mười năm năm nói thật” không? Chỉ cần “Bốn mươi năm nói láo” đã đủ chứng minh sự tận tụy của Vũ Bằng với nghề báo rồi. Một cuốn sách khác về nghề báo, có lẽ phải đợi lớp hậu sinh khả úy. Thế nhưng, ai sẽ viết khi công nghệ số thúc ép mỗi nhà báo cuống cuồng theo đuổi tin tức mà hầu như không có thời gian để đánh giá từng vấn đề một cách sâu sắc hơn, tinh tế hơn, nhân văn hơn?

Nhờ một chút cơ duyên, tôi may mắn được đánh đu với nhiều thế hệ nhà báo, từ những nhà báo đang sung sức đến những nhà báo đã cao niên, từ lãnh đạo báo chí cấp cao cho đến phóng viên tập sự nhút nhát. Và điều tôi đúc kết được là càng ngày các nhà báo càng có quan điểm đơn giản về nghề báo. Thậm chí đâu đó đã xuất hiện khuynh hướng coi báo chí như một nghề kiếm ăn bình thường, không hề có hoài bão gì, không hề có sứ mệnh gì. Ý niệm sự thật và chính nghĩa trở nên mong manh khi nhà báo chấp nhận xã hội như một bức tranh được vẽ sẵn và cây bút của nhà báo chỉ dùng để tô màu. Đáng sợ hơn, nếu hành vi tô màu của nhà báo không phụ thuộc vào năng lực của mình mà phụ thuộc vào mong muốn của những người ban lợi ích cho mình! Tôi thường phải rất cố gắng để tránh khỏi kiểu cười chua chát khi mường tượng hình ảnh nhà triết học lừng lẫy thế kỷ 18 của nước Pháp – Edmund Burke nhìn lên khu vực dành cho báo chí trong lâu đài Versailles mà bảo rằng: “Trên kia là đẳng cấp thứ tư và họ nắm giữ quyền lực nhiều hơn ba đẳng cấp quý tộc, tăng lữ và thường dân”. 
Có nhiều lý do để phân bua cho chất lượng tác phẩm báo chí hiện nay. Ai cũng phải làm liền tay, phải nhanh phải nhiều mới đáp ứng được tốc độ nhật báo, tốc độ internet. Tuy nhiên, những bài báo chụp giựt và hời hợt chỉ tạo nên sự phồn vinh giả tạo mà thôi. Một nền báo chí không thể phát triển nếu độc giả không tìm thấy những bài báo đáng đọc lần thứ hai. Tôi có thói quen sưu tầm những bài báo hay, nhưng càng ngày kết quả thu lượm càng thưa vắng dù mặt bằng báo chí đang đa dạng dần lên. Vì sao? Vì những nhà báo gạo cội đã mỏi mệt, mà những nhà báo trẻ không thể thay thế. Có thể trách giận chăng, nếu các nhà báo trẻ biện minh họ phải bận rộn hoàn thành những bài báo mưu sinh cấp thời. Chính Hội Nhà báo VN cũng phát hiện thực tế bẽ bàng này, nên vài năm gần đây luôn chi ra khoản kinh phí không nhỏ để đầu tư cho tác phẩm báo chí chất lượng cao! Thế nhưng bao giờ mới có bài báo cỡ như “Cái đêm hôm ấy đêm gì?” của Phùng Gia Lộc, thì không ai dám tiên liệu!

                                

                                         Một cảnh trong phim "Nghề báo"!

    Tôi chưa bao giờ nguôi mơ ước làng báo Việt Nam sẽ có được những nhà báo lớn, mà tác phẩm của họ giúp công chúng biết đắn đo đặt cược cho tương lai. Nếu không đủ sức thu nạp như Thomas Friedman viết “Chiếc lexus và cây ô liu” hoặc “Thế giới phẳng”, thì cũng can đảm như Tom Plate viết “Lời tự thú của một nhà báo Mỹ” hay chọn con đường khái quát như Jeferey Archer viết “Quyền lực thứ tư”. Đáng tiếc, kinh tế thị trường đang đẩy giới nhà báo vào thế chông chênh giữa nghiệp vụ và cơm áo. Tôi có cảm giác nhiều đồng nghiệp của mình bắt đầu giông giống MC chuyên nói những câu đèm đẹp theo kịch bản có sẵn. Nguy hiểm hơn là một bộ phận không nhỏ các nhà báo thiếu kiềm chế đã sa vào trào lưu nịnh thối – chửi hôi khi chung đụng với doanh nghiệp. Khi muốn xin tài trợ hoặc muốn xin quảng cáo thì gắn lên cho họ nhiều thứ son phấn mà họ không thể có hoặc không muốn có, nhưng khi họ gặp trục trặc thì xúm lại miệt thị, dèm pha đủ đường. Thật sự, qua trường hợp dư luận bủa vây một nữ đại gia thủy sản ở miền Tây Nam bộ, tôi rất ngượng bởi nhớ đến bài thơ “Xem gặt lúa” của Bạch Cư Dị viết từ đầu thế kỷ thứ 9: “Phận mình tài cán gì, việc nông trang chẳng biết, lương hưởng ba trăm hộc, ăn kết năm vẫn dư, nghĩ lại thấy thẹn thùng, suốt ngày lòng bứt rứt”. Những người trực tiếp làm ra của cải cho đất nước, lẽ ra phải được báo chí ứng xử đàng hoàng hơn, tử tế hơn.

    Vài năm gần đây, báo chí cũng không thoát khỏi từ trường ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Mỗi tờ báo muốn nuôi cán bộ, phóng viên đã phải gồng gánh một cách chật vật, nên việc đối đãi cộng tác viên càng gay go gấp bội. Có một câu chuyện tuy riêng tư nhưng tôi vẫn muốn kể ra để mọi người hiểu “bếp núc” nghề báo. Tôi có mời một giáo sư ngôn ngữ giữ chuyên mục thường xuyên hàng tuần. Mỗi tháng, tôi mang nhuận bút đến tận nhà cho ông. Có lần không thu xếp được, tôi gọi cho cậu cháu nội của giáo sư ngôn ngữ vốn đang làm việc cho một công ty đa quốc gia có trụ sở gần tòa soạn ghé đến nhận dùm. Chàng trai ấy mọi bữa gặp tôi ở nhà riêng đều rất thân thiện, nhưng sau khi ký nhuận bút dùm ông nội thì lại quay ra nhìn tôi với ánh mắt rất lạ lùng. Tôi vẫn đang thắc mắc với tình huống có vẻ khó hiểu kia thì mấy hôm sau vị giáo sư điện thoại: “Mình xin lỗi. Mình không cộng tác nữa. Hôm trước đi nhận nhuận bút về, cháu mình nói: “Cháu thấy người ta trả cho trí tuệ của ông một cái giá bèo bọt, cháu buồn lắm. Từ nay ông đừng viết nữa. Mỗi tháng cháu biếu ông mấy triệu!”. Mình chẳng phải mê tiền, nhưng căng thẳng giữa ông cháu sẽ không hay. Mình xin lỗi nhé!”. Thì ra vậy. Sở dĩ tôi thấy chàng trai ấy có vẻ lạ lùng vì ánh mắt hắt ra vài tia phẫn nộ. Trước đó cậu cháu không hề biết nhuận bút mỗi bài của ông nội là bao nhiêu, nên khi đi nhận thay cảm thấy hụt hẫng và xót xa vì so sánh với thu nhập tính bằng đô la Mỹ của chính mình. Tôi không giận vị giáo sư và càng không giận cháu nội của ông. Tôi chỉ mong có cơ hội giải thích cho chàng trai ấy rằng, không có tờ báo nào chèn ép hay khinh thường cộng tác viên, nếu điều kiện kinh tế thuận lợi, nhuận bút sẽ trả gấp năm, gấp mười như thế. Tuy nhiên, mệnh đề “nếu” không phải lúc nào cũng thuyết phục được người khác.
So với 10 năm trước hoặc 20 năm trước thì cuộc sống của các nhà báo bây giờ đã được cải thiện rất nhiều. 

Nhà báo ở biệt thự, không hiếm. Nhà báo đi xe hơi, không hiếm. Có thể khấp khởi mừng thầm “kim môn tàng kiều”, chốn giàu sang sẽ có người đẹp, chốn giàu sang sẽ có điều hay chăng? Chưa chắc. Cách gõ bàn phím máy tính chỉ nhỉnh hơn cách viết tay bản thảo về thao tác kỹ thuật, chứ không khẳng định được sự tiến bộ nào về tư duy đề tài hay phương pháp phản biện. Thỉnh thoảng đọc lại những gì mình viết khi mới vào nghề, tôi nhận ra không ít sự vụng về và sự ngây ngô, nhưng khẩu khí thật thắng thắn và lối nói thật chân thành. Cổ nhân dạy, tuổi trẻ là lương tri của thời đại, quả không sai. Cái thuở bê con không sợ hổ dữ, cái thuở tiểu ngư gặp Long Vương không biết mặt để chào, xem ra cũng lắm ưu việt. Ít nhất trên những bài báo ngỡ ngây dại ấy, độc giả không thấy nhà báo uốn éo ngôn từ để đón lỏng chút xu thời hay che chắn chút toan tính! Bây giờ, cái nồng nhiệt ngày xưa không thể nào tìm lại được, nhưng tôi vẫn dặn mình rằng, nghề báo rất cao quý, đừng bao giờ để lộ ra sự hèn mọn trước những kẻ có quyền và những kẻ có tiền!

                                  6-2013

Copy từ: Lê Thiếu Nhơn

Sự thật về video lên án Cù Huy Hà Vũ




HRW: Việt Nam gia tăng đàn áp giới blogger



VRNs (20.06.2013) – New York, USA - Cần có phản ứng ngoại giao mạnh mẽ trước các vụ bắt giữ và hành hung gần đây
New York, ngày 20 tháng Sáu năm 2013 – Hôm nay, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng chính quyền Việt Nam cần phóng thích vô điều kiện những blogger mới bị bắt trong thời gian gần đây và chấm dứt các vụ hành hung nhằm vào những người lên tiếng phê phán. Các nhà tài trợ và đối tác thương mại của Việt Nam cần công khai yêu cầu chính quyền nước này hủy bỏ việc áp dụng luật hình sự để trừng phạt các nhà hoạt động ôn hòa.
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền kêu gọi trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện những người mới bị bắt trong thời gian gần đây, là blogger Trương Duy Nhất và Phạm Viết Đào và nhà hoạt động trên mạng internet Đinh Nhật Uy, đồng thời tiến hành điều tra các tố cáo về việc công an hành hung các nhà hoạt động trên mạng gồm Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Hoàng Vi và Phạm Lê Vương Các, những công dân cần được chính quyền bảo vệ an ninh.
“Chính sách đàn áp mọi tiếng nói phê phán, dù lớn hay nhỏ, của Việt Nam sẽ chỉ đưa đất nước này lún sâu hơn vào khủng hoảng,” ông Brad Adams, Giám đốc Ban Á Châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói. “Những vụ bắt giữ và tấn công các blogger mới đây cho thấy chính quyền sợ thảo luận công khai về dân chủ và nhân quyền đến mức nào.”
Rất nhiều vụ bắt giữ được áp dụng theo điều 258 của Bộ Luật Hình sự Việt Nam, một trong các điều luật mơ hồ và có độ co giãn cao thường được dùng để đàn áp những người thực thi quyền tự do ngôn luận. Các vụ bắt giữ và hành hung trong thời gian gần đây gồm có:
+ Ngày 26 tháng Năm năm 2013, lực lượng an ninh Bộ Công An bắt giữ blogger Trương Duy Nhất vì đã “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân,” theo tờ báo Thanh Niên ở Việt Nam. Vụ bắt giữ blogger 49 tuổi tại nhà riêng của ông ở thành phố Đà Nẵng diễn ra sau khi ông đăng tải trên blog cá nhân “Một góc nhìn khác” nổi tiếng một bài kêu gọi Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản cầm quyền Nguyễn Phú Trọng từ chức, cho rằng họ đã dẫn dắt đất nước Việt Nam lún sâu hơn vào những khó khăn chính trị và kinh tế.
+ Ngày mồng 7 tháng Sáu năm 2013, năm người được cho là công an hành hung blogger Nguyễn Hoàng Vi, 26 tuổi (còn được biết với tên An Đổ Nguyễn) và nhà hoạt động pháp lý Phạm Lê Vương Các trên một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Theo giới blogger Việt Nam, những kẻ tấn công đã theo dõi Nguyễn Hoàng Vi và gia đình cô trong suốt mấy ngày rồi đánh cô ngã, gây ra những vết thương phải vào bệnh viện chữa trị. Nguyễn Hoàng Vi là một người nổi tiếng trên mạng Internet; cô đã từng bị tấn công trong hai ngày mồng 5 và 6 tháng Năm năm 2013 sau những nỗ lực tổ chức buổi “dã ngoại nhân quyền” ở thành phố Hồ Chí Minh với vai trò chủ chốt.
+ Vào ngày 13 tháng Sáu, công an bắt giữ blogger Phạm Viết Đào tại nhà riêng ở Hà Nội, cũng với lý do “lợi dụng tự do dân chủ,” theo tuyên bố của Bộ Công An, một tín hiệu cho thấy khả năng ông sẽ bị truy tố theo điều 258. Tương tự như Trương Duy Nhất, trang mạng của Phạm Viết Đào cũng từng lên tiếng phê phán một số nhà lãnh đạo chính trị Việt Nam.
+ Ngày 15 tháng Sáu, Đinh Nhật Uy bị bắt theo điều 258. Em trai anh, Đinh Nguyên Kha, đã bị xử tám năm tù vào ngày 16 tháng Năm năm 2013 vì phát tán tờ rơi phê phán các chính sách đối nội và đối ngoại của nhà nước Việt Nam. Đinh Nhật Uy, 30 tuổi, bị bắt ở tỉnh Long An sau khi phát động một phong trào đòi trả tự do cho em trai mình trên mạng Internet và đăng tải các hình ảnh và bài viết qua tài khoản Facebook của mình. Theo Thông tấn xã Việt Nam – cơ quan thông tấn chính thức của Việt Nam, anh bị cáo buộc vì “nội dung sai sự thật, xuyên tạc làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan nhà nước.”
Điều 258 được áp dụng để truy tố những người bị chính quyền coi là “lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” và quy định mức án lên đến bảy năm tù đối với những người bị coi là phạm tội này trong “các trường hợp nghiêm trọng.” Các tòa án theo mệnh lệnh chính trị ở Việt Nam thường áp dụng các điều khoản nói trên để xử tù những người công khai bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa.
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nhận xét chính quyền Việt Nam liên tiếp gia tăng đàn áp các tiếng nói chỉ trích tham nhũng và chuyên quyền. Những người bị chính quyền nhắm tới trong thời gian gần đây đại diện cho nhiều thành phần công luận, vì Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào và Nguyễn Chí Đức từng làm việc cho bộ máy chính quyền, Trương Duy Nhất từng làm cho báo chí chính thống, Phạm Viết Đào từng là cán bộ nhà nước còn Nguyễn Chí Đức từng là đảng viên Đảng Cộng sản. Đinh Nhật Uy, Nguyễn Hoàng Vi và Phạm Lê Vương Các phản ánh tiếng nói bất đồng của một thế hệ trẻ hơn, không có ràng buộc gì với bộ máy nhà nước.
“Các nhà tài trợ và đối tác thương mại cần đứng về phía những người Việt Nam đang đấu tranh cho các quyền tự do của mình, và lên tiếng công khai rằng không ai có thể bị bắt hay hành hung vì bày tỏ ý kiến,” ông Adams nói. “Họ cần khẳng định rằng tương lai duy nhất của các nước muốn phát triển và hiện đại hóa là một xã hội tự do và cởi mở, ở đó các tiếng nói phê phán được chính quyền ghi nhận là một phần bình thường của tiến trình chính trị.”
Human Rights Watch
Gởi trực tiếp cho VRNs


Copy từ: Truyền Thông Chúa Cứu Thế

Thủ thuật tấn công mạng ở Việt Nam



Blogger Trương Duy Nhất và Phạm Viết Đào mới bị bắt để điều tra theo điều luật 258 BLHS.
Một số tổ chức cổ súy cho nhân quyền và tự do ngôn luận cảnh báo Liên Hiệp Quốc (LHQ) về thực trạng Hà Nội đàn áp quyền biểu đạt và tấn công mạng nhắm vào người sử dụng.
Bốn tổ chức có tên Access, Article 19, PEN International và English PEN đã đồng đệ trình một văn bản tới chương trình theo dõi nhân quyền định kỳ của LHQ.
Nội dung Bấm đơn đệ trình tập trung vào thực trạng Việt Nam thiếu cải thiện nhân quyền, đặc biệt là tự do biểu đạt ở Việt Nam và nêu bật việc chính phủ Việt Nam gia tăng tấn công mạng mà mục tiêu là xã hội dân sự.
Đánh giá Định kỳ Phổ quát (UPR) là chương trình được Đại hội đồng LHQ thành lập vào năm 2006 để đảm bảo "Từng Nhà nước thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nhân quyền của mỗi quốc gia".
UPR là một cơ chế để rà soát thực trạng nhân quyền của tất cả các nước thành viên LHQ và đưa ra khuyến nghị để cải thiện khoảng 4-5 năm một lần, lần tới thực hiện cho Việt Nam sẽ vào năm 2014.
Đơn của các tổ chức này có đoạn nói về những hạn chế đáng kể về tự do ngôn luận ở Việt Nam bất chấp thực tế rằng chính phủ Việt Nam đã chấp nhận một khuyến nghị từ chính phủ Thụy Điển từ lần xem xét cuối cùng vào năm 2009 theo đó đề nghị Việt Nam "đảm bảo tôn trọng triệt để quyền tự do biểu đạt, trong đó có tự do ngôn luận trên Internet."
"Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, danh sách các chủ để cấm đưa tin được mở rộng thêm ra các mảng chỉ trích chính phủ điều hành kinh tế, tranh chấp đất đai giữa chính phủ và dân chúng địa phương, và chuyện làm ăn của con gái Thủ tướng"
Những quan ngại đặc biệt được nói tới bao gồm thực trạng nhà nước kiểm soát truyền thông, thiếu tự do báo chí, các văn bản pháp luật hạn chế về tự do ngôn luận, theo dõi mạng và tấn công vào xã hội dân sự, và việc bắt và xử tù các nhà văn, nhà báo, blogger, và những người cổ vũ cho nhân quyền.
Trong phần nói về nhà nước kiểm soát truyền thông, đơn đệ trình của các tổ chức này nói về việc các tổng biên tập được triệu tập tới Ban Tuyên giáo Trung ương để nghe các quan chức ban này đưa ra kế hoạch làm tin hàng tuần.
“Tại các cuộc họp giao ban này, nhà chức trách xem xét tin tức mà các báo đăng tuần trước đó và khiển trách các tổng biên tập đã để cho đăng bài với nội dung không được duyệt.”
“Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, danh sách các chủ để cấm đưa tin được mở rộng thêm ra các mảng chỉ trích chính phủ điều hành kinh tế, tranh chấp đất đai giữa chính phủ và dân chúng địa phương, và chuyện làm ăn của con gái Thủ tướng.”
Cài mã độc

"Ngay sau khi ông [Trương Duy Nhất] bị bắt, người truy cập vào trang web của ông sẽ bị “dính” phần mềm độc được tải xuống máy tính của họ mà họ không hề biết"
Nhà chức trách Việt Nam đã bị cáo buộc đang gia tăng tấn công mạng vào xã hội dân sự bao gồm tấn công bằng từ chối dịch vụ (DoS), tạo tên miền giả, cướp tài khoản và phá mặt tiền các trang web họ không ưa.
“Các cuộc tấn công ở diện rộng đã xâm phạm quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin nêu trong Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam là thành viên”, phúc trình cho biết.
Giới an ninh mạng đã dùng thủ thuật tạo các trang web nhái lại trang của một số blogger nổi tiếng và cài mã độc vào để truy cập vào tài khoản cá nhân hoặc vào máy tính của những người lên các trang đó đọc tin.
“Các tổ chức xã hội dân sự và các nhà hoạt động tại Việt Nam đã bị cướp tài khoản. Điều này thường được thực hiện thông qua việc sử dụng phần mềm độc để truy cập thông tin tài khoản cá nhân của họ.
“Vào ngày 26 tháng 5 năm 2013, chính phủ Việt bị bắt blogger Trương Duy Nhất và trang web của ông ngay lập tức bị chiếm đoạt.
“Ngay sau khi ông bị bắt, người truy cập vào trang web của ông bị “dính” phần mềm độc được tải xuống máy tính của họ mà họ không hề biết.”
Bằng việc đệ trình tới LHQ, các tổ chức cổ súy nhân quyền đã đưa ra điều họ gọi là “một số kiến nghị cho chính phủ Việt Nam nhằm cách cải thiện việc đối xử với quyền kỹ thuật số và quyền tự do biểu đạt.
Các khuyến nghị này bao gồm cho phép giấu tên thật khi dùng mạng, cho phép người sử dụng Internet để truy cập các blog và các trang web bên ngoài Việt Nam, ngưng tùy tiện theo dõi người sử dụng internet, và chấm dứt hoạt động tấn công mạng.


Copy từ: BBC

...............................

Nhớ “ngày ký giả đi ăn mày”


Năm 1974, chính quyền Sài Gòn ban hành Sắc luật 007 về quản lý báo chí. Theo sắc luật này, tất cả các báo phát hành hằng ngày phải đóng tiền ký quỹ xuất bản khoảng 47.000-48.000 USD thời bấy giờ. Nếu không đóng tiền ký qũy đương nhiên báo bị đóng cửa.

Ngoài ra, Sắc luật 007 còn quy định, báo nào bị tịch thu lần thứ 2 do đăng bài ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, gây mất trật tự công cộng, kể như bị đóng cửa vĩnh viễn.
Sự khắc nghiệt của Sắc luật 007/74 chẳng khác nào là “bàn tay sắt” bóp chết báo chí thời bấy giờ, đã gây nên làn sóng đấu tranh đòi công bằng của những người làm báo, mà đỉnh cao của cuộc đấu tranh này là “ngày ký giả đi ăn mày”.
Người bán báo đặc biệt
“Báo đây... báo đây!”. Tiếng rao của người bán báo muộn màng lạc lõng vang lên giữa trời chiều đang dần tắt nắng. Thuở đó, tất cả các báo đều phát hành buổi chiều, người bán báo dạo chỉ bán được khi nắng chiều còn vương ít ỏi trên hàng me, đến khi sập tối là kể như báo... ế. Người bán báo này, với chiếc nón nỉ đen tưa vành cũ rách che khuất gần hết mặt và chiếc áo “ký giả” 3 túi đã sờn vai, không hối hả vội vàng, cứ tà tà trên chiếc xe đạp cà tàng, tiếng rao rề rà như con nghiện thiếu thuốc. Nghe tiếng rao báo quen quá, tôi vội chạy ra cửa, đúng là ông Tô Nguyệt Đình, bấy giờ là Cố vấn Hội Ái hữu Ký giả Việt Nam đồng thời cũng là Cố vấn Nghiệp đoàn Ký giả Nam Việt (NĐKGNV). Nét mặt ông tươi vui hóm hỉnh, nhanh nhẹn lấy tờ báo  đưa cho tôi, giọng nói đầy ngụ ý cho tôi hiểu việc ông giả dạng làm người bán báo hôm nay: “Thời buổi khó khăn quá, làm đủ thứ nghề để kiếm sống, khi làm thợ mộc, lúc bán báo, miễn làm sao thoát cảnh “nghẹt thở” này thôi”. Sự xuất hiện đột ngột của ông với việc cải trang như thế này, tôi đoán chắc là ông có việc gì quan trọng lắm nhờ đến tôi. Vì từ lâu ông rất thương mến tôi như con cháu trong gia đình, chính ông đã dẫn dắt tôi tập tành vào nghề báo...
Tôi biết, hiện nay ông đang gặp nhiều “rắc rối” trong hoạt động báo chí công khai, thời gian qua, ông đã cùng nhiều người làm báo chống đối Sắc luật 007 mà mọi người gọi đó là “bàn tay sắt” bóp chết báo chí. Thấy tôi còn ngỡ ngàng, ông Tô Nguyệt Đình cẩn thận ngó trước sau, rồi nói thẳng với tôi: “Hôm nay bác đến đây là để nhờ cháu giúp việc này. Tối nay, bằng mọi giá cháu phải vẽ xong tấm biểu ngữ, sáng mai trước 6 giờ, cháu giao biểu ngữ cho bà bán tranh sơn dầu trước cửa trụ sở NĐKGNV số 15 Lê Lợi. Giao xong, cháu phải đi ngay, đừng nấn ná rất nguy hiểm. Nhưng tối nay tranh thủ ghé ngoài bác để xem có thay đổi gì không”. Tôi đọc dòng chữ mà ông Tô Nguyệt Đình giao cho tôi vẽ. Biểu ngữ “10-10-1974, Ngày Ký giả đi ăn mày” và “Sắc luật 007/74, ký giả phải đi ăn mày”. Lúc sắp đạp xe ra đi “bán báo”, ông Tô Nguyệt Đình còn dặn dò: “Ngày mai là ngày trọng đại của báo chí, nếu không có tấm biểu ngữ này, kể như không thành công”. Tôi liền ra chợ Bà Chiểu mua vải về để vẽ biểu ngữ mà trong lòng bồn chồn lo lắng. Sợ mình có sơ suất điều gì sẽ ảnh hưởng lớn đến biết bao nhiêu ký giả.
Như nước sông đổ ra biển
Đêm đó, dưới ánh đèn dầu tôi vẽ biểu ngữ. Tiếng gà gáy vang vang khắp xóm Long Vân Tụ là lúc tôi vừa vẽ xong. Tôi mang hai tấm biểu ngữ ra đến trụ sở NĐKGNV khi đèn đường vừa tắt. Tất cả vẫn bình thường, chỉ có bà bán tranh hôm nay dọn hàng sớm hơn mọi khi. Vừa giao xong hai tấm biểu ngữ cho bà bán tranh, tôi đã thấy các ông Tô Nguyệt Đình, Văn Mại, Trần Kiêm Uẩn, Quốc Phượng… những người hoạt động báo chí công khai, cũng là những người cầm đầu tổ chức “ngày ký giả đi ăn mày” hôm nay và lần lượt các ký giả tham gia cuộc xuống đường đi ăn mày đến khá đông. Đó cũng là lúc lực lượng Cảnh sát dã chiến với trang bị khiên mây trên tay, đeo mặt nạ chống hơi cay trông rất dữ tợn, tay cầm dùi cui, ầm ập vây quanh trụ sở NĐKGNV. Còn Cảnh sát áo trắng đứng thành ba hàng,  tay nắm liền nhau chặn ngang đường Lê Lợi. Xe jeep hú còi inh ỏi từ các nơi chạy về điểm nóng: Trụ sở NĐKGNV. Tiếng bộ đàm vang vang liên tục từ các xe mô tô lợn tới lượn lui, một không khí cực kỳ căng thẳng, như sắp diễn ra một cuộc đụng độ kinh hồn. Lực lượng ký giả đi ăn mày mỗi người được phát một cái bị ăn mày, chiếc nón lá có ghi chữ ký giả đi ăn mày và một cây gậy tre.
Đúng 8 giờ, ông Nguyễn Kiên Giang, Chủ tịch NĐKGNV thay mặt Ban Tổ chức đọc diễn văn “Sắc luật 007, ký giả phải đi ăn mày” và ông tuyên bố: “Xuống đường”. Ngay tức khắc, đoàn ký giả đi ăn mày bị sự ngăn chặn quyết liệt của lực lượng Cảnh sát. Lúc bấy giờ, học sinh, sinh viên và người dân có mặt rất đông, họ tràn vào tiếp sức với ký giả, xông vào phá vòng vây của Cảnh sát. Trước sức chống trả quyết liệt của mọi người, vòng vây Cảnh sát dần bị mở tung, cuộc xuống đường của ký giả đi ăn mày như nước tràn cuồn cuộn ra biển cả, không gì ngăn cản nổi. Đoàn biểu tình theo đường Lê Lợi ra chợ Bến Thành, vòng qua công trường Quách Thị Trang rồi quay về nơi xuất phát. Các tiểu thương chợ Bến Thành ai nấy cũng đều cảm động, thương người làm báo bị áp bức, nhưng không khuất phục, quyết đấu tranh cho lẽ phải. Mọi người mang tặng nhiều quà bánh và tiền cho ký giả ăn mày.
Tất cả những thành phẩm của cuộc đi ăn mày được giữ tại trụ sở NĐKGNV, chờ ngày mang phân phát cho dân nghèo và các gia đình ký giả có hoàn cảnh khó khăn. Ngay đêm đó, lực lượng Cảnh sát đã ồ ạt tấn công vào trụ sở NĐKGNV. Các ký giả bị đàn áp dã man không nương tay. Nhiều người bị đánh, bị bắt tù đày rất thương tâm.
Tuy cuộc đấu tranh đòi công bằng của ký giả bị đàn áp dã man nhưng tiếng vang của “ngày ký giả đi ăn mày”, tinh thần đấu tranh vì công lý, vì lẽ phải quyết chống lại những gì đi ngược với đạo lý của những người làm báo, vẫn còn mãi trong tình cảm của mọi người lúc bấy giờ.
Nguyễn Tường Lộc 



Copy từ: Công Lý