Hội nghị Trung ương 7 của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt
Nam (CSVN), từ 02 đến 11 tháng 05 (2013), đã lộ ra những bất ổn trong
nội bộ ngày một nghiêm trọng và uy tín lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng đã xuống thấp trước giữa nhiệm kỳ 5 năm.
Bằng chứng đã tập trung vào 4 lĩnh vực trong Bài diễn văn khai mạc Hội nghị của ông Trọng:
-Thứ
nhất, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở lỏng lẻo, chồng chéo,
rườm rà, tự duy cán bộ, đảng viên chậm đổi mới, tiếp tục đùn đầy trách
nhiệm và vô trách nhiệm.
-Thứ hai, Đảng không nắm được dân, dân ngày một xa đảng, thù ghét cán bộ.
-Thứ
ba, Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng đã thất bại, các tệ nạn
tham nhũng, chạy chức chạy quyền tiếp tục lan rộng. Suy thoái tư tưởng
và mất phẩm chất chưa có dấu hiệu suy giảm.
-Thứ 4, Quy hoạch cán
bộ cấp chiến lược gặp khó khăn, các phe nhóm lợi ích trong đảng, quân
đội và công an tiếp tục lũng đọan, phá nhau để bảo vệ quyền lực, chống
“đổi mới chính trị”.
Vế điểm một, ông Nguyễn Phú Trọng thừa nhận
sau hai khoá đảng IX và X, tổng cộng 10 năm, hệ thống lãnh đạo đảng và
nhà nước vẫn: “ Chưa được phát huy đầy đủ; hiệu lực, hiệu quả quản lý
nhà nước chậm được nâng cao; việc đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa
mạnh, tình trạng "hành chính hóa " chậm được khắc phục ? Vì sao cải cách
hành chính chưa đạt được kết quả mong muốn; bộ máy tổ chức và tổng biên
chế vẫn tiếp tục phình to, nhất là ở cấp tổng cục, các đơn vị trực
thuộc bộ và chính quyền cơ sở. Tình trạng "tách ra, nhập vào", "nhập
vào, tách ra" vẫn lặp đi lặp lại.”
Nhưng tại sao lại có tình trạng này sau 12 năm Việt Nam bắt đầu thực hiện cuộc Cải cách Hành chính (CCHC) từ 2001 ?
Lý
do chính và quan trọng nhất là “không ai muốn thay đổi vì thay đổi là
thất thu cho bản thân và phe nhóm” nên người dân ở Việt Nam đã quen gọi
“hành là chính” trong muôn vàn lọai giấy tờ và quyết định, nghị định dù
Chính phủ biết không đem lại kết quả cũng cứ ban hành để vừa làm vừa sửa
rồi không sửa gì cả, để mặc cho dân chịu những hậu quả!
Vì vậy,
sau 10 năm “cải cách hành chính” từ 2001 đến 2010 (nhiệm kỳ đảng IX và X
thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh), chính phủ thừa nhận: “Tuy vậy, 10 năm
thực hiện CCHC vẫn còn có những hạn chế, yếu kém như tốc độ chậm, kết
quả chưa được như mục tiêu đặt ra: Hệ thống thể chế còn thiếu đồng bộ,
thống nhất, vẫn chồng chéo, nhiều về số lượng nhưng hạn chế về chất
lượng; các đầu mối trực thuộc CP giảm nhưng bộ máy bên trong các bộ chưa
giảm; cơ chế quy định trách nhiệm người đứng đầu chưa rõ ràng; cải cách
tài chính công mới chỉ là bước đầu, kết quả còn hạn chế...
Đặc
biệt, cải cách tiền lương vẫn còn chậm, lương chưa chưa trở thành động
lực cho cán bộ, công chức phấn đấu và cống hiến.” (Báo Vietnamnet,
02/04/2011)
Báo cáo tổng kết CCHC 10 năm cũng nhìn nhận một bộ phận
cán bộ, công chức còn "thiếu trách nhiệm, chưa thạo việc, hạn chế về
năng lực” nhưng số nhân viên vẫn mỗi ngày một nhiều thêm, thay vì bớt đi
như kế họach đã đề ra.
Trong một bài nghiên cứu Giáo sư, Tiến sĩ
Khoa học Nguyễn Văn Thâm của Học Viện Hành chính Quốc gia viết: “Những
tồn tại qua hơn 10 năm cải cách nền hành chính nhà nước vẫn còn nhiều.
Có thể kể ra những tồn tại chính như sau:
Bộ máy hành chính vẫn
mang nặng nhiều dấu ấn cũ trong quá trình điều hành (quan liêu , bao
cấp), không theo kịp yêu cầu của giai đoạn mới, Cụ thể:
- Chức năng, nhiệm vụ, phân công, phân cấp chưa rõ ràng, chưa phù hợp với cơ chếthị trường;
-
Hệ thống thể chếkhông đồng bộ, không thống nhất. Thủ tục hành chính vẫn
còn nhiều điều rườm rà, nặng nề. Kỷ cương quản lý không nghiêm. Nạn
lãng phí, tham nhũng không bị đẩy lùi, thậm chí có xu hướng trầm trọng;
- Bộ máy vẫn còn cồng kềnh. Phương thức quản lý vừa quan liêu vừa phân tán. Không nắm hết được yêu cầu của dân.
- Cơ chếtài chính không thích hợp.
Công chức còn nhiều người yếu kém vềnăng lực chuyên môn, tinh thần trách
nhiệm, phẩm chất chưa tương xứng với yêu cầu của thời kỳ mới, xử lý tình huống phức tạp còn lúng túng.”
Ông
Trọng thay ông Nông Đức Mạnh lãnh đạo đảng kể từ ngày 19/1/2011 nhưng
những điều Giáo sư Nguyễn Văn Thâm nêu ra vẫn còn nguyên nên ông Trọng
mới nói thêm trong Diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 7 rằng: “ Hoạt
động của nhiều ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy khối vẫn lúng túng.
Giữa các bộ, ngành vẫn còn một số nội dung quản lý nhà nước trùng lắp
hoặc chưa được phân công cụ thể, rõ ràng. Việc phân cấp của Trung ương
cho chính quyền địa phương, của cấp trên đối với cấp dưới nhìn chung
chưa thật hợp lý; có lĩnh vực quá rộng, thiếu sự kiểm tra, giám sát, ảnh
hưởng đến sự quản lý thống nhất cả nước; có lĩnh vực lại quá hẹp, không
phát huy được quyền chủ động, tính năng động, sáng tạo của địa phương.
Các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện sau khi sắp xếp lại tuy có
giảm đầu mối trực thuộc ủy ban nhân dân nhưng lại tăng các đơn vị bên
trong các sở, ngành. Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về vị trí, vai trò,
hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường. Vấn đề
biên chế, phụ cấp cho cán bộ cơ sở vẫn chưa có lời giải thấu đáo. Số các
hội quần chúng được lập mới vẫn tăng nhanh, một số hội đề nghị có biên
chế cán bộ, công chức và hưởng kinh phí từ ngân sách nhà nước...”
Như
thế rõ ràng là cả hệ thống cầm quyền từ Trung ương xuống cơ sở đã chưa
làm theo quyết định của Bộ Nội vụ khi tổng kết 10 thi hành CCHC và đề ra
nhiệm vụ cho 5 năm (2011-2016).
Báo cáo do Tiến sĩ Vũ Văn Thái, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Biên chế, Bộ Nội vụ đề ra các nhiệm vụ này gồm :
-
Nghiên cứu sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân đáp ứng tinh thần đẩy mạnh cải cách hành chính,
nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội
Đảng XI và tạo cơ sở pháp lý để cải cách cơ bản hơn hệ thống các cơ quan
hành chính các cấp.
- Xây dựng đề án cơ cấu tổ chức Chính phủ
khoá XIII theo yêu cầu, nâng cao hàm lượng cải cách để tổ chức được tinh
gọn, hợp lý hơn. Theo đó, điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức bên trong của
các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh, cấp huyện thống nhất với cơ cấu tổ chức Chính phủ sau khi
được điều chỉnh, sắp xếp lại.
- Xây dựng, hoàn thiện thể chế tổ
chức bộ máy, đặc biệt là ban hành Nghị định quy định chung về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ; các
Nghị định riêng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của từng bộ, cơ quan ngang bộ, nhất là đối với những bộ được sắp
xếp, kiện toàn lại tổ chức.
-Tiếp tục rà soát, điều chỉnh việc
phân cấp quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực giữa Trung ương và địa
phương theo yêu cầu giảm mạnh quan hệ “xin - cho” trong việc thực hiện
thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
-Nghiên cứu hình thành một
cơ quan ngang tầm để thực hiện chức năng chủ sở hữu, và giám sát hoạt
động đối với các doanh nghiệp nhà nước, để thực hiện việc tách căn bản
giữa chức năng quản lý hành chính nhà nước với chức năng quản lý của
doanh nghiệp.
-Hoàn thiện cơ chế quản lý đối với khu vực sự
nghiệp công, tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp hoạt động tự chủ, tự
chịu trách nhiệm trong hoạt động cung ứng dịch vụ công.
- Đẩy
mạnh phân cấp quản lý gắn với giảm quan hệ “xin – cho” và kiểm soát thủ
tục hành chính, trong việc thực hiện thẩm quyền của các cơ quan quản lý
nhà nước.
Như vậy, liệu thời gian còn lại chỉ còn hơn 2 năm sẽ
đến Đại hội đảng XII (nhiệm kỳ 2016-2021), đảng có đủ thời giờ để làm
sạch mình và canh tân guồng máy cai trị không?
Và nếu không (phần nhiều là không) thì hậu quả của “hệ thống chính trị” sa lầy này sẽ đưa dân đi về đâu ?
Ngay
trong trường hợp Hội nghị Trung ương 7 có “sáng kiến” cho đảng và luôn
để giúp bản thân 200 Ủy viên thì cũng để nằm trên giấy, khó mà biến
thành hiện thực như đã chứng minh từ bấy lâu nay.
Dân vận hay làm cho dân giận?
Về
công tác “Dân vận” ông Trọng thắc mắc: “Vấn đề đặt ra là vì sao lúc
này chúng ta lại phải bàn về đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với công tác dân vận?”
Không có gì khó hiểu cả. Nếu ông Trọng
trả lời được tại sao cái gì đảng cũng nói là “của dân, do dân và vì
dân” mà đảng và cán bộ, đảng viên nắm tất cả và có tất cả còn dân thì
trắng tay?
Đảng nói “nhân dân làm chủ” nhưng lại để cho Nhà nước
“quản lý cái dân làm chủ” như không cho dân được quyền tự do ứng cử, bầu
cử, tự do lập hội, tự do biều tình, tự do ra báo và tự do thờ phượng và
hành đạo, không cho dân có quyền làm chủ ruộng vườn do cha ông đã dầy
công khai phá để lại thì làm sao mà đảng nói dân nghe lọt lỗ tai?
Đảng
và ngay cả Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đã nhiều lần kêu gọi dân giúp
đảng vạch mặt, chỉ tên những kẻ có chức, có quyền đã đục khoét công qũy,
rút của mồ hôi nước mắt của dân để thanh toán “quốc nạn” tham nhũng, và
truy tố những kẻ áp bức, đe dọa dân nhưng lại không dám bảo vệ dân để
không bị kẻ ác trù dập thì có ai dám “đưa đầu ra cho chúng báng” ?
Lại
nữa, khi người dân bị lấy đất, bị cưỡng chế bằng bạo lực thì nhà nước
lại bênh vực kẻ có tiền, chủ đầu tư để mặc cho dân bị mất công bằng và
bị bóc lột đến trắng tay bại sản thì nhân dân tin ai?
Đấy cũng là
nguyên do của các vụ người dân đã không ngại đường xa, nằm đường xó chợ
về tận Trung ương, ăn vạ trước nhà các lãnh đạo để khiếu kiện đông
người, hoặc phải tấn công vào các trụ sở Ủy ban Nhân dân để đòi công
bằng đã diễn ra khắp nước chỉ vì các cấp chính quyền đã đùn đẩy cho nhau
đến vô cảm trước đau khổ, đói nghèo của dân.
Ngay đến việc bảo
vệ chủ quyền lãnh thổ của dân chống mọi mưu toan chiếm đất, chiếm biển
Việt Nam của Trung Cộng mà nhà nước cũng ra tay đàn áp, bắt dân bỏ tù để
làm hài lòng “các đồng chí anh em” Bắc Kinh thì làm sao mà dân không
nghi ngờ trong đảng đã có những kẻ “nối giáo cho giặc” hoặc “cõng rắn
cắn gà nhà” như lời cảnh báo của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang?
Vì
vậy, ông Nguyễn Phú Trọng đã “bắt trúng mạch” bất mãn của dân khi ông
nhìn nhận : “Phải chăng là do bối cảnh, tình hình đã và đang có nhiều
thay đổi. Bên cạnh mặt thuận lợi cơ bản, cũng xuất hiện không ít khó
khăn, thách thức mới, đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ mới và bản thân công tác
dân vận hiện còn những hạn chế, yếu kém? ….Tình trạng phân hóa giàu
nghèo, phân cực, phân tầng xã hội; những biến đổi về quan hệ lợi ích, hệ
giá trị xã hội; sự cách biệt về kinh tế, xã hội… làm nảy sinh tiền đề
của sự phân hóa về nhận thức, tư tưởng…. Những hiện tượng tiêu cực, tham
nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... đang làm
tổn thương đến uy tín của Đảng và Nhà nước, làm giảm sút niềm tin của
nhân dân.”
Ông Trọng nói đúng và trúng. Nhưng khi ông “chạy
quanh” đổ vạ chuyện rối ren nội bộ, ruỗng rữa trong hàng ngũ là do “các
thế lực thù đich” đã lợi dụng cơ hội để “nói xấu chế độ” và “bôi nhọ đội
ngũ lãnh đạo” là ông không thành thật chịu trách nhiệm của một người
lãnh đạo.
Ông nói: “Lợi dụng những khó khăn của nước ta trên con
đường phát triển, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các hoạt động "diễn
biến hòa bình", xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nói
xấu chế độ, bôi nhọ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tìm mọi thủ đoạn phân hóa
nội bộ Đảng, kích động chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước.”
Ông
Trọng và các lãnh đạo Nhà nước hãy nghiêm chỉnh soi gương xem trên mặt
mình có vết nhám nào không rồi hãy lên án những người chỉ trích mình thì
có lẽ phải đạo hơn là cứ nhắm mắt che giấu những khuyết điểm của mình
và của đồng chí để tạo nghi ngờ trong dân, trong khi không lo sửa mình
như Nghị quyết Trung ương 4 đã đòi hỏi.
Cán bộ chiến lược và lá phiếu tín nhiệm
Điểm
thứ ba, tuy ông Trọng nói dài về kết quả 1 năm sau ngày thi hành Nghị
quyết 4 về "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" nhưng ông
không “vớt vát” được những mất mát nghiêm trọng do chính ông gây ra tại
Hội nghị Trung ương 6.
Tại Hội nghị 6, ông Trọng đã để cho các
phe phái thao túng Ủy ban Trung ương đảng để đưa đến việc không kỷ luật
Bộ Chính trị và cá nhân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dù ông Dũng và một số
người khác đã có “có biểu hiện chưa gương mẫu về đạo đức, lối sống của
bản thân và gia đình, nói không đi đôi với làm, đã làm ảnh hưởng đến uy
tín của các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước và bản thân các đồng chí đó,
đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng.”
Mặc dù tại Hội nghị 7
ông Trọng nhìn nhận “trong hơn một năm qua, dù thời gian còn ngắn, nhiều
việc mới triển khai hoặc chưa đạt kết quả như mong muốn, chưa đáp ứng
được kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân…”, nhưng ông không lấy
lại được niềm tin trong dân mà ông và Ban Chấp hành Trung ương đã đánh
mất tại Hội nghị 6.
Ông Trọng đã thất bại và uy tín của ông cũng
đã xuống dốc như chiếc xe mất thắng sau hơn 2 năm lãnh đạo. Những điều
ông “phân bua” trong Diễn văn khai mạc Hội nghị 7 về Nghị quyết 4 chỉ
làm cho đảng viên và người dân đứng xa ông hơn.
Do đó, những gì
ông nói về công tác được gọi là “xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến
lược” cho niên khóa đảng XII (20016-2021) cũng không gây được ấn tượng
gì trong nhân dân, nếu lấy kinh nghiệm “mánh mung, phe cánh, chạy chọt,
đùn đầy, chia chác” đã diễn ra tại Đại hội đảng XI để soi gương.
Vì
vậy, không ai ngạc nhiên khi thấy ông Trọng đã rào đón rằng : “Đây là
lần đầu tiên Trung ương tiến hành xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến
lược, chắc là không tránh khỏi những mặt còn hạn chế, chúng ta sẽ vừa
làm vừa rút kinh nghiệm.”
Nhưng Đảng đã có quá nhiều kế họach, dự
án kinh tế được gọi là “vừa làm vừa rút kinh nghiệm” để sau đó đổ vỡ,
lãng phí không biết bao nhiêu triệu tỷ đồng tiền mồ hôi nước mắt của dân
như “phong trào mía đường”, “nhà máy xi-măng”, “bến cảng” đến “đánh
bắt xa bờ”.
Ngay cả “dự án khai thác Bauxite” trên Tây Nguyên
cũng đang lâm vào ngõ bí thì có hy vọng gì trong dự án “quy họach cán bộ
cấp chiến lược” cho tương lai đảng sẽ bảo đảm không xảy ra nạn bè phái,
bênh che, nể nang, chạy chọt của các “nhóm lợi ích” đang lũng đọan
trong Quân đội, Công an và bộ máy kinh tế-tài chính ở Việt Nam ?
Ấy
là chưa kể đến kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khai mạc ngày 20/5/2013 sẽ có
việc thảo luận việc “lấy phiếu tín nhiệm” 49 Chức danh do Quốc hội phê
chuẩn.
Nhiều lời cảnh giác trong dân về dự phòng sẽ có tình rạng
“chạy chức chạy quyền”, “bỏ phiếu cho có lệ”, “chín bỏ làm mười”, “nay
anh mai tôi”, “cùng đồng chí với nhau” ai nỡ làm khó nhau, “chạy cửa
hậu” v.v… đã đến ngưỡng cửa Quốc hội.
Các chức danh sẽ “bị” lấy
phiếu tín nhiệm tại Quốc hội gồm: Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Chủ
tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ
nhiệm Ủy ban của Quốc hội, các thành viên khác của Ủy ban thường vụ Quốc
hội; Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các
thành viên khác của Chính phủ; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước.
Nhưng từ khi “lấy phiếu” đến giai đoạn “bỏ phiếu tín nhiệm” còn dài.
Theo
dự kiến thì người có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín
nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức. Người có trên hai phần ba tổng số
đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc hai năm liên tiếp có
quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” thì Ủy ban
thường vụ Quốc hội trình Quốc hội “bỏ phiếu tín nhiệm”.
Đây sẽ là
cuộc trắc nghiệm mới mà 500 Đại biểu Quốc hội phải chứng minh với nhân
dân xem họ có thật lòng muốn “đổi mới bộ mặt chính trị” của Việt Nam hay
sẽ lại tiếp tục đi theo đường cũ “đảng bảo sao tôi làm vậy” như từng
xảy ra trước đây.
Vì vậy mọi con mắt ở Việt Nam đang tập trung
vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xem cuộc bỏ phiếu tại Quốc hội có ảnh
hưởng đến địa vị chính trị của ông hay ông sẽ thoát khỏi thêm lần nữa
như đã xảy ra tại Hội nghị Trung ương 6?
Phạm Trần